nut

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011

PHÚC ÂM HÓA


               SỰ CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ TÂN PHÚC ÂM HÓA

Paul Martin, OP.
Theo thánh Luca, khi Đức Giêsu trở về thăm quê hương Nazareth, Người vào Hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sabát, và đứng lên đọc sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng : ‘Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho những kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,16-19).
Đọc xong những lời trong sách ngôn sứ Isaia, Đức Giêsu cuộn sách lại và tuyên bố : "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà quý vị vừa nghe". Hai chữ "hôm nay" này vừa nhấn mạnh đến tính hiện tại của ơn cứu độ, vừa cho thấy sự xuất hiện của Đức Giêsu đã khai mở thời hồng ân mà các ngôn sứ đã loan báo qua lịch sử Cựu Ước. Điều này gợi lên rằng công cuộc rao giảng Tin Mừng phải luôn là hiện tại và tương lai; đòi hỏi nơi người rao giảng Tin Mừng tính thích nghi trong từng thời đại lịch sử của nhân loại. Việc canh tân, thích nghi và hội nhập Tin Mừng trong thời đại mới này đã được nhấn mạnh nhiều khởi đi từ Công đồng Vatican II cho đến hai vị Giáo hoàng gần đây nhất.
1. Khởi đi từ Công đồng Vatican II
Chủ trương canh tân, thích nghi và hội nhập Tin Mừng vào nền văn hóa nơi Tin Mừng dừng chân đã khởi đi từ Công đồng Vatican II. Có thể nói, Công đồng đã đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong lịch sử của Giáo Hội và khai mở một hướng đi mới.
Trong khi chăm chú lắng nghe Lời Chúa và tìm về cội nguồn của mình, Giáo Hội trong Công đồng Vatican II đã tái khám phá căn tính, ơn gọi và sứ mệnh cứu độ đã được lãnh nhận từ Đức Kitô. Giáo Hội đã mạnh dạn thực hiện nhiều cuộc canh tân ở các cấp độ khác nhau để thực hiện sứ vụ loan báo Tin Mừng trong thời đại mới. Nhiều Thượng Hội đồng cũng như Hội đồng các Giám mục thuộc phạm vi thế giới, đại lục, miền hay quốc gia đã được triệu tập để tiếp tục đào sâu sứ vụ canh tân và thích nghi này. Đặc biệt nhân dịp kỉ niệm 10 năm bế mạc Công đồng Vatican II, một Thượng Hội đồng Giám mục đã được triệu tập với mục đích giúp Giáo Hội thích ứng hơn với sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho nhân loại của thế kỷ XX. Cố gắng của Thượng Hội đồng là để trả lời cho ba câu hỏi căn bản sau đây :
a. Năng lực tiềm ẩn của Tin Mừng có còn khả năng thức tỉnh lương tâm con người nữa không?
b. Sức mạnh của Tin Mừng có thể biến đổi thực sự con người ngày hôm nay như thế nào và đến đâu?
c. Phải dùng những phương pháp nào để việc loan báo Tin Mừng được hữu hiệu?
Tất cả những suy tư và kiếm tìm của Thượng Hội đồng đã được Đức Phaolô VI đúc kết và công bố năm 1975 qua Tông thư “Evangelinuntiandi”. Đây là tài liệu nền tảng của nhiều chương trình loan báo Tin Mừng trong hai thập niên cuối của thế kỷ XX vừa qua.
2. Qua Đức Gioan Phaolô II       Ngay từ buổi đầu triều đại Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II, "Tân Phúc Âm hóa" đã trở thành một đề tài quan trọng, thường xuyên được ngài đề cập trong các văn kiện, nhất là trong các cuộc viếng thăm mục vụ ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt tại Mỹ châu La tinh và Âu châu. Trước ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, "Tân Phúc Âm hóa" đã trở thành chương trình mục vụ chung của toàn thể Giáo Hội Công giáo.
Đứng trên phương diện suy tư thần học, Đức Gioan Phaolô II đã cảnh giác chúng ta đừng lẫn lộn "Tân Phúc Âm hóa" với "Tái Phúc Âm hóa". Chữ "tân" hay "mới" được dùng ở đây không chủ ý trình bày một "Phúc Âm mới", khác với "Phúc Âm cũ" đã được loan truyền từ trước đến nay. Xưa cũng như nay, chỉ có một Phúc Âm hay Tin Mừng duy nhất, trường cửu và tự tại: "Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy đến muôn đời" (Dt 13,8). Tuy nhiên trong một xã hội đa dạng, phức tạp và thay đổi không ngừng như xã hội chúng ta, dĩ nhiên phương pháp và cách thế loan báo Tin Mừng phải luôn luôn được cập nhật hóa, ngõ hầu đáp ứng nhu cầu và yêu sách đặc biệt của thời đại. Ngỏ lời trước Hội nghị các Giám mục Mỹ châu La tinh họp tại Port-au-Prince, Haiti, ngày 9 tháng 3 năm 1983, Đức Gioan Phaolô II xác định rõ: "Việc kỷ niệm 500 năm rao giảng Tin Mừng sẽ có một ý nghĩa tròn đầy nếu có sự dấn thân của quý chư huynh Giám mục, cùng với hàng linh mục và giáo dân; dấn thân, không phải để tái Phúc Âm hóa (re-evangelización), mà là tân Phúc Âm hóa (nueva evangelización). Mới trong sự nhiệt thành, trong phương pháp, trong lối diễn tả" (Insegnamenti di Giovanni Paolo II, VI, 1 (1983), Editrice Vaticana, 1983, p.698).
Như vậy, cái "mới" trong diễn ngữ "Tân Phúc Âm hóa" không thuộc về bản chất và nội dung của Tin Mừng, mà ám chỉ cách thế diễn tả và khả năng lãnh hội Tin Mừng, cũng như cách sống đạo của chúng ta. Đối diện với tình trạng thụ động, thờ ơ, buông xuôi, hờ hững... với sứ vụ sống và rao truyền Tin Mừng của rất nhiều người Công giáo thời nay, yêu cầu tiên quyết là làm sao có được một khí thế và sự nhiệt thành mới. Hơn bao giờ hết, Giáo Hội cần những tín hữu biết đào sâu đức tin, sống trung thực với lý tưởng của mình và can đảm, hăng say, nhiệt thành loan báo Tin Mừng cho những người chung quanh.        Nhưng để thực hiện tốt sứ vụ đó trong một xã hội phức tạp, đa dạng và đầy biến động, ngoài lòng nhiệt thành nói trên, còn đòi hỏi phải biết sử dụng những phương pháp phù hợp. Như vậy, nói đến tân Phúc Âm hóa là nói đến việc đổi mới về phương pháp, ngõ hầu có thể loan báo Lời Chúa hữu hiệu hơn cho xã hội hôm nay. "Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ (...). Nhưng rượu mới thì phải đổ vào bầu mới" (Lc 5,37-38). Đức Kitô đã chẳng căn dặn chúng ta như thế sao?
Cuối cùng, Tân Phúc Âm hóa luôn đòi hỏi phải đổi mới về ngôn ngữ, lối diễn tả và cách thế trình bày sao cho phù hợp với tâm thức và văn hóa thời đại. Tân Phúc Âm hóa đòi hỏi làm sao kết hợp tốt những giá trị vĩnh cửu của Tin Mừng với những giá trị và yếu tố riêng của mỗi thời đại và mỗi nền văn hóa. Nếu Lời Chúa bất biến và duy nhất, thì những suy tư thần học, đường lối sống đạo, cách thế trình bày và chuyển đạt Tin Mừng phải luôn uyển chuyển theo điều kiện văn hóa và xã hội cụ thể của người nói cũng như của người nghe.    Nói cách khác, "Tân Phúc Âm hóa" yêu cầu làm sao thể hiện những hình thức mới trong cách thế hiểu Đạo, sống Đạo, diễn tả Đạo, tổ chức cộng đoàn, kiến tạo xã hội, v.v. Đặc biệt, nếu giáo sĩ và tu sĩ thường giữ vai trò chủ động trong các công cuộc rao giảng Tin Mừng trước đây, thì ngày hôm nay việc tân Phúc Âm hóa cần đề cao vai trò của người giáo dân.
3. Đến Đức Bênêđíctô XVI hôm nay            Ngay từ khi mới ra rao giảng, Đức Giêsu đã nói: “Tôi đến để mang Tin Mừng cho người nghèo” (Lc 4,18). Dĩ nhiên, Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu là một sứ điệp phổ quát, gởi đến hết mọi người, mọi dân tộc và văn hóa. Phủ nhận tính đại đồng này là bóp méo và xuyên tạc bản chất của Tin Mừng. Tuy nhiên, cái độc đáo của Đức Giêsu là đã liên kết tài tình tính phổ quát của tình yêu Thiên Chúa với việc chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo.
Ngày nay, cái nghèo đáng sợ không phải là cái nghèo vật chất mà là cái nghèo tinh thần: là sự thiếu khả năng vui mừng, là tin rằng cuộc đời vô nghĩa và mâu thuẫn. Vì thế, cái nghèo này đã lan tràn khắp nơi, cả trên các nước giàu có về vật chất cũng như các nước nghèo, bằng nhiều hình thức khác nhau. Sự thiếu khả năng vui mừng là hậu quả và cũng là nguyên nhân của sự thiếu khả năng yêu thương. Nó đem lại sự ghen tương và tham lam – là những thói xấu tàn phá đời sống cá nhân và thế giới.
Đó là lý do tại sao chúng ta cần “Tân Phúc Âm hóa” trong thế giới hôm nay. Chúng ta có thể nói rằng, công cuộc Phúc Âm hóa đã đem lại thành quả tốt đẹp cho nhiều người. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang lo ngại khi phải chứng kiến tiến trình tẩy xóa Kitô giáo trong xã hội cách tiệm tiến, và đánh mất những giá trị căn bản của con người. Một phần lớn nhân loại ngày nay không tìm thấy Tin Mừng trong việc rao giảng Tin Mừng thường trực của Hội Thánh nữa, nghĩa là không tìm thấy câu trả lời có sức thuyết phục cho câu hỏi: “Phải sống thế nào?” Trên đây là ý kiến của Đức Hồng Y Ratzinger, khi chưa làm Giáo hoàng ngài đã phát biểu trong buổi nói chuyện với các tham dự viên của Năm Thánh dành cho Giáo lý viên về “tân Phúc Âm hóa” [1].
Tiếp nối những thao thức và ưu tư trên, thời gian gần đây, Đức Bênêđíctô XVI đã nói đến hiện tượng nhiều nước Kitô giáo kỳ cựu đang chịu ảnh hưởng nặng nề của trào lưu tục hóa, xa lìa đức tin Kitô, trào lưu vô thần thực hành lan tràn cùng với sự dửng dưng tôn giáo. Vấn đề này càng trở nên cấp thiết hơn khi Đức Thánh Cha nói đến việc quyết định thành lập Hội đồng Giáo hoàng về “Tân Phúc Âm hóa” trong giờ kinh chiều ngày 28.06.2010. Biến cố thiết lập tân Hội đồng của Tòa Thánh nhằm cổ võ việc tái truyền giảng Tin Mừng đã được Đức Bênêđíctô XVI cụ thể hóa bằng Tự sắc mang tựa đề “Ubicumque et Semper”. Tự sắc mang chữ ký của Đức Thánh Cha ngày 21.09.2010 và bắt đầu có hiệu lực sau khi được đăng trên báo Quan sát viên Rôma của Tòa Thánh, nghĩa là từ ngày 13.10.2010.    Để giải thích việc thiết lập tân Hội đồng của Tòa Thánh này, Đức Tổng Giám mục Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh cổ võ công cuộc Tân Phúc Âm hóa vừa được Đức Bênêđíctô XVI thiết lập, đã nói : “Trong nhiều thập niên qua, Huấn quyền của Giáo Hội đề cập nhiều đến vấn đề tái loan báo Tin Mừng. Rõ ràng có thể thấy ngay, đây là vấn đề đang thách đố toàn thể Giáo Hội. Phải tìm ra những phương thế thích hợp để canh tân sứ vụ loan báo Tin Mừng của Hội Thánh cho những người đã lãnh nhận Phép Rửa mà nay không còn hiểu ý nghĩa của việc mình là thành viên của cộng đoàn tín hữu Kitô nữa, và đã trở thành nạn nhân của chủ nghĩa cái tôi chủ quan trong thời đại ngày nay. Chủ nghĩa này giam cầm con người trong cái tôi cá nhân chủ nghĩa, thiếu tinh thần trách nhiệm đối với việc chung và đối với xã hội.”
Cũng theo Đức Tổng Giám mục Fisichella, Tự sắc “Ubicumque et Semper” nêu rõ, Tân Phúc Âm hóa không phải là một giải pháp đơn thuần, áp dụng đồng nhất vào một hoàn cảnh, nhưng đòi hỏi chúng ta phải có thêm những suy nghĩ có cơ sở đúng đắn, hỗ trợ cho hoạt động mục vụ tương ứng. Hơn nữa, cũng đòi hỏi chúng ta phải có khả năng thẩm định kỹ càng những truyền thống và mục tiêu phong phú được hình thành trong lịch sử lâu đời của Giáo Hội: sự đa dạng không phải là mối nguy cơ phá vỡ tính hiệp nhất.       Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI cũng lưu ý chúng ta rằng, Tân Phúc Âm hóa không có nghĩa là một hình thức truyền giáo mới, có khả năng mang lại những kết quả kỳ diệu ngay trước mắt. Nhưng đó chỉ nói lên một nỗ lực đổi mới trong công cuộc loan báo TinMừng: khiêm hạ, trung thành và phó thác cho Thiên Chúa tiến trình của công cuộc Tân Phúc Âm hóa.     Và để thực hiện Tự sắc trên theo từng bước cụ thể, Đức Bênêđíctô XVI đã loan báo việc triệu tập một Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới vào năm 2012 về “Tái truyền giảng Tin Mừng để thông truyền đức tin Kitô giáo”. Đức Giáo hoàng đã loan báo sự kiện đó trong bài giảng của thánh lễ bế mạc Thượng Hội đồng Giám mục đặc biệt về các Giáo Hội Trung Đông vào Chúa Nhật 24.10.2010 tại đại vương cung thánh đường thánh Phêrô, trong đó ngài nói về sự cấp thiết phải “tái truyền giảng Tin Mừng cho những người biết sơ sài hoặc có khi đã xa lìa Giáo Hội” (theo Zenit).[2]    Nói tóm lại, tất cả những gì Hội Thánh đang làm và sẽ làm là nhằm giúp cho nhân loại nhận thấy vấn đề thật sự của thời đại chúng ta là “Cơn khủng hoảng về Thiên Chúa”. Sự vắng mặt của Thiên Chúa đang được ngụy trang bằng một tín ngưỡng rỗng tuếch. Nhiều người cho rằng dù có Thiên Chúa hay không thì mọi sự vẫn xoay vần. Tiếc rằng các Kitô hữu chúng ta cũng thường sống như là không có Thiên Chúa. Vì thế, Hội Thánh chỉ cho chúng ta thấy rằng điều cần thiết duy nhất của con người là Thiên Chúa. Cho nên việc rao giảng Tin Mừng phải nói về Thiên Chúa trước hết, rao truyền một Thiên Chúa Thật Duy Nhất: Đấng Tạo Hóa, Đấng Thánh Hóa, Đấng Phán Xét. Trên thực tế, sứ điệp Kitô giáo mà mỗi Kitô hữu chúng ta cần loan truyền thật đơn giản: chúng ta nói về Thiên Chúa và con người, và như thế, chúng ta nói về mọi điều.
(TTHVĐM, nội san số 16)


[1] Đức Hồng Y Ratzinger, Diễn từ cho các Giáo lý viên và các Thầy Cô dạy về Tôn giáo Năm Thánh Giáo lý viên, ngày 12.12.2000, Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ.
Top of Form

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011

Công lý và hoà bình-thách đố và yêu sách ở thời đại hôm nay

CÔNG LÝ VÀ HOÀ BÌNH

THÁCH ĐỐ VÀ YÊU SÁCH Ở THỜI ĐẠI HÔM NAY

                    
 Lm. G.M. Lê Quốc Thăng
Thời đại của thế kỷ XXI hôm nay là Kỷ nguyên  được đánh dấu bởi hiện tượng Toàn Cầu Hoá, đây là một hiện tượng phức tạp chi phối mạnh mẽ, toàn diện cuộc sống con người trên bình diện cá nhân cũng như cộng đồng. Dù là người chống đối hay ủng hộ, tất cả đều nhận thức rõ ràng sự tồn tại và những ảnh hưởng tiêu cực lẫn tích cực của nó. Khởi đầu là hiện tượng toàn cầu hoá về kinh tế và tài chính, với sự phát triển mạnh mẻ, năng động đến mức bùng nổ của nền khoa học công nghệ thông tin, thế giới dường nhu bị thu nhỏ lại mọi thông tin trên thế giới đựơc tiếp cận nhanh chóng, chính xác, đa diện, đa chiều. Tưởng chừng như mọi biên giới quốc gia, mọi rào cản ngôn ngữ, mọi ngăn cách địa lý không còn nữa. Thế giới như bị san phẳng. (Xem Thomas L. Friedman, Thế Giới Phẳng Tóm lược lịch sử Thế giới Thế kỷ 21, Nhà Xuất Bản Trẻ Tái bản lần thứ 3, 2008.)
Toàn cầu hoá đã thực sự tác động đến mọi chiều kích của đời sống nhân loại trên trái đất này. Toàn cầu hoá ngày nay đã mở rộng tầm ảnh hưởng, không chỉ trong lãnh vực kinh tế - tài chính thế giới mà còn lan toả đến mọi lãnh vực văn hoá, xã hội, chính trị dẫn đến những biến đổi quan trọng trong mô hình sản xuất, nếp sống, lối suy nghĩ cũng như tiêu chuẩn đánh giá con người. (Xem Gm, Nguyễn Thái Hợp OP, Một Cái nhìn về Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo, Nhà Xuất bản Phương Đông, 2010, tr. 389). Chính trong bối cảnh của một Thế Giới Toàn cầu hoá như vậy đã làm nảy sinh những thách đố cũng như yêu sách về công bằng, về an sinh, về tự do và các chuẩn mực lý mới. Sứ vụ Loan Báo Tin Mừng của Giáo Hội Công Giáo cũng phải đối diện với những thách đố và yêu sách ấy vì không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng người môn đệ Đức Kitô (GS, Số 1)
<!--[if !supportLists]-->I.          <!--[endif]-->Toàn Cầu Hoá Thu Hẹp Thế Giới : Những vấn đề của mỗi Quốc Gia, mỗi sắc tộc, mỗi nền văn hoá xem ra không còn là vấn đề riêng mà đã trở nên vấn đề chung. Những xung đột, những tranh chấp của các cộng đồng sắc tộc, quyền lợi người lao động hay quyền lợi của người dân không còn ở trong giới hạn của một thẩm quyền lãnh thổ, khu vực mà đã có khuynh hướng giải quyết bằng những nỗ lực đa quốc gia, đa khối hay mang tầm vóc toàn cầu như đã sảy ra ở cuộc chiến Vùng Vịnh, Afganitan và đang sảy ra tại Lybia … Nhiều vấn đề tác động đến ý thức con người, khiến con người chú ý hơn đến những vấn đề có ảnh hưởng toàn cầu như vấn đề nóng lên của khí hậukhủng bốbuôn lậu ma tuý và vấn đề nâng cao mức sống ở các nước nghèo. Với việc gia tăng thương mại quốc tế với tốc độ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới; gia tăng luồng tư bản quốc tế bao gồm cả đầu tư trực tiếp từ nước ngoài; gia tăng luồng dữ liệu xuyên biên giới thông qua việc sử dụng các công nghệ như Internet, các vệ tinh liên lạc và điện thoại; gia tăng trao đổi văn hoá quốc tế, chẳng hạn như việc xuất khẩu các văn hoá phẩm như phim ảnh hay sách báo, tất cả đã làm mờ đi ý niệm chủ quyền quốc gia và biên giới quốc gia thông qua các hiệp ước quốc tế dẫn đến việc thành lập các tổ chức như WTO và OPEC.
Các tổ chức quốc gia sẽ mất dần quyền lực, quyền lực này sẽ chuyển về tay các tổ chức đa phương như WTO. Các tổ chức này sẽ mở rộng việc tự do đối với các giao dịch thương mại, và thông qua các hiệp ước đa phương hạ thấp hoặc nâng cao hàng rào thuế quan để điều chỉnh thương mại quốc tế.
Về khía cạnh văn hoá, xã hội, toàn cầu hoá sẽ tạo ra những hiệu quả trái ngược ở mức độ cá nhân hay dân tộc, mà kết cục thế nào đến nay cũng vẫn chưa ngã ngũ. Toàn cầu hoá sẽ tạo ra một sự đa dạng cho các cá nhân do họ được tiếp xúc với các nền văn hoá và văn minh khác nhau. Toàn cầu hoá giúp con người hiểu hơn về thế giới và những thách thức ở quy mô toàn cầu qua sự bùng nổ các nguồn thông tin, việc phổ thông hoá hoạt động du lịch, việc tiếp cận dễ dàng hơn với giáo dục và văn hoá; một sự đồng nhất đối với các dân tộc qua ảnh hưởng của các dòng chảy thương mại và văn hoá mạnh.
Toàn cầu hoá sẽ làm tăng lên nhiều lần các mối quan hệ giữa các công dân trên thế giới và cũng như các cơ hội cho từng người. Tuy nhiên nó đặt ra vấn đề là phải tìm ra một giải pháp thay thế cho hệ thống chính trị và hiến pháp hiện tại dựa trên khái niệm nhà nước-quốc gia. Các thực thể này đã từng gây ra những tác động tiêu cực trong suốt lịch sử do tính chất can thiệp mạnh bạo của nó. Ảnh hưởng của chúng giảm dần do sự toàn cầu hoá, và không còn đủ tầm xử lý nhiều thách thức mang tính toàn cầu ngày nay. Từ đó nảy sinh thách thức cần thiết lập một toàn cầu hoá dân chủ thể chế nào đó. Kiểu toàn cầu hoá này dựa trên khái niệm "công dân thế giới", bằng cách kêu gọi mọi người sống trên hành tinh này tham gia vào quá trình quyết định những việc liên quan đến họ, thông qua môt tổ chức chung như Liên Hiệp Quốc. (Xem Toàn Cầu Hoá, Tự điển Error! Hyperlink reference not valid. )
Thế giới ngày càng chia sẻ những vấn đề và thách thức vượt qua khỏi quy mô biên giới quốc gia, Thế giới quả thật đã và đang thu hẹp lại thành một ngôi làng. Cơ hội để phát triển các quốc gia, các dân tộc ngày càng lớn nhưng thách đố ngày càng nhiều.
<!--[if !supportLists]-->II.      <!--[endif]-->Những Thách Đố Cho Đường Lối Công Lý Và Hoà Bình Của Giáo Hội
Để thấy cách thực tế và cụ thể những thách đố cho đường lối Công lý và Hoà bình của Giáo hội ở thời đại này, thiết tưởng, cần phải nhìn bối cảnh thế giới toàn cầu hoá qua lăng kính các công việc chính của Hội Đồng Giáo Hoàng Về Công Lý Và Hoà Bình. Công việc chính của Hội đồng Giáo hoàng là thực hiện các cuộc nghiên cứu định hướng hoạt động dựa trên giáo huấn xã hội của Giáo Hội do Đức Thánh Cha và hội đồng giám mục công bố. Thông qua các cuộc nghiên cứu, Hội đồng Giáo hoàng cũng đóng góp vào sự phát triển của giáo huấn này trong những lĩnh vực rộng lớn sau : Công lý,  Hoà bình và Nhân Quyền. Từ đó, sẽ thấy nổi lên các thách đố sau :
<!--[if !supportLists]-->1.   <!--[endif]-->Tình Trạng Bất Bình Đẳng, Phân Hoá Giàu Nghèo, thiếu Tôn Trọng Công Ích ngày càng gia tăng:
<!--[if !supportLists]-->1.1        <!--[endif]-->Hơn bao giờ hết ngày nay người ta chứng kiến tình trạng bất bình đẳng xảy ra hầu như ở mọi nơi trên thế giới. Từ ở những Quốc gia nghèo đói, đang phát triển cho đến ngay cả những quốc gia được coi là phát triển mạnh về kinh tế luôn tồn tại sự bất bình đẳng giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội với mức độ ngày càng phổ biến và tinh vi. Trong xã hội luôn có những thế lực, những nhóm đặc quyền, đặc lợi muốn chi phối toàn bộ ích lợi cộng đồng, chiến đoạt cách bất công tài sản hoăc quyền lợi chính đáng của người nghèo, của cộng dồng sắc tộc thiểu số hay của những quốc gia nhỏ bé, kém phát triển. Những sự bất bình đẳng trước đây chỉ được trải nghiệm trong nội bộ các quốc gia, nay đang trở nên mang tính quốc tế và càng làm cho tình hình bi đát của Thế giới Thứ Ba thêm rõ rệt hơn bao giờ hết. (Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo số 94). Có nhiều dấu chỉ cho thấy xu hướng các sự bất bình đẳng ngày càng tăng cao giữa các nước tiến tiến và các nước đang phát triển, cũng như ngay chính trong các nước đã công nghiệp hoá. Những tiến trình phát triển kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật giúp nhiều người ngày càng giàu về kinh tế, nhưng cũng làm nhiều người ngày càng nghèo đi. (Sách đã dẫn, Số 362).
<!--[if !supportLists]-->1.2        <!--[endif]-->Thế giới hôm nay là một siêu thị khổng lồ trong đó tốc độ mua bán, trao đổi hàng hoá gia tăng chóng mặt xuyên quốc gia, đa quốc gia. Siêu thị này đã góp phần tạo nên một thế giới tiêu thụ, hàng hoá, của cải vật chất dư thừa. Nhưng đồng thời, cũng tạo nên hố phân cách giàu nghèo ngày càng sâu rộng giữa các nước phát riển và kém phát triển, giữa tầng lớp thượng lưu và người bần cùng. Các nước giàu đã tỏ ra có khả năng tạo ra sự an vui vật chất, nhưng lại thường phải hy sinh con người và các giai cấp xã hội yếu kém hơn. “ Người ta không thể không biết tới sự thật : ranh giới giữa giàu và nghèo đan chéo với nhau ngay trong chính các xã hội, bất kể là xã hội phát triển hay đang phát triển. Thật vậy, những bất bình đẳng xã hội, thận chí tới mức sống cơ cực và nghèo khổ, có mặt trong các nước giàu thế nào, thì tương tự như vậy, trong các nước kém phát triển hơn, người ta cũng thường chứng kiến những biểu hiện của sự ích kỷ và một sự phô trương giàu có rất đáng lo ngại và chướng ta gai mắt.” (Sách đã dẫn, số 374)
<!--[if !supportLists]-->1.3        <!--[endif]-->Bên cạnh đó điều đáng lo ngại, báo động trong thế giới hôm nay, nhất là nơi các quốc gia đang phát triển hay chậm phát triển là tệ nạn khai thác tài nguyên môi trường vì ích lợi của các nước lớn và của các tập đoàn kinh tế. Tài nguyên dần cạn kiệt, môi trường sống ngày càng bị phá huỷ và trở nên ô nhiễm. Tình trạng bầu khí quyển nóng lên, những hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu gây nhiều thiệt hại đang diễn ra là kết quả của một quá trình dài lâu con người khai thác và phá huỷ môi trường tràn lan, bừa bãi, không kế hoạch vì lợi ích cục bộ. Cũng không thể không nói đến tình trạng vi phạm công ích đang ngày càng phổ biến. Những tình trạng tệ hại sảy ra cho môi trường sống tự nhiên hay những bất công, bất bình đẳng đang tồn tại có một nguyện nhân sâu xa là do thiếu tôn trọng công ích. Sự thiếu tôn trọng công ích nơi những nước lớn muốn bành trướng, áp đặt các nước nhỏ phục vụ lợi ích kính tế, quan sự, chính trị của mình. Sự thiếu tôn trọng công ích khí những tập đoàn kinh tế, những nhóm quyền lợi muốn chi phối, vơ vét, bóc lột những giai cấp bần cùng trong xã hội. Từ đó dẫn tới sự vi phạm công ích. Công ích thuộc về quyền lợi của kẻ mạnh hơn là quyền lợi của tất cả mọi người, trong khi đó mọi khía cạnh trong đời sống xã hội đều phải liên hệ đến công ích, nếu muốn đạt được ý nghĩa trọn vẹn nhất, công ích xuất phát từ chính phẩm giá, sự thống nhất và bình đẳng của hết mọi người.(Sách đã dẫn, số 164) Công ích là toàn bộ những điều kiện xã hội cho phép con người, tập thể hay cá nhân, đạt tới sự phát triển cách đầy đủ và dễ dàng hơn.(GS, số 26)
<!--[if !supportLists]-->2.        <!--[endif]-->Một Thách thức cho Đường Lối Công Lý Và Hoà Bình Của Giáo Hội
<!--[if !supportLists]-->2.1        <!--[endif]-->Một thế giới không ngừng gây chiến, không ngưng tiếng súng : Hầu như không thể nào tưởng tưởng được trong một kỷ nguyện hạt nhân như hiện nay, người ta được phép sử dụng chiến tranh như một công cụ để thực thi công lý. Cuộc chiến tranh vùng vịnh vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX và hiện nay như tại Lybia. Ngay hiện tại này, chúng ta đang chứng kiến những cuộc xung đột vũ trang khắp nơi ở Bắc Phi, Nam Á, Trung Đông … Tất cả đều nhân danh công lý, bảo vệ thường dân để tuyên chiến. Chiến tranh đúng là một mối hoạ và không bao giờ là một phương cách thích đáng để giải quyết mâu thuẫn. Chiến tranh chưa bao giờ và cũng sẽ không bao là phương cách thích đáng vì chiến tranh sẽ tạo ra những xung đột mới còn phức tạp hơn. Khi chiến tranh bùng nổ, nó trở thành một cuộc tàn sát không cần thiết, một cuộc ra đi không có ngày về, làm hai tới hiện tai, đe doạ tương lai của nhân loại. Hoà bình không làm mất điều gì, nhưng chiến tranh có thể làm mất tất cả. Thiệt hại do một cuộc xung đột vũ trang gây ra không chỉ thiệt hại vật chất mà còn thiệt hại tinh thần. Chiến tranh là sự thất bại của toàn thể nền nhân đạo chân chính, chiến tranh luôn luôn là một sự thất bại của con người. (Tóm lược Học thuyết Xã Hội Giáo Hội Công giáo, số 498)
<!--[if !supportLists]-->2.2        <!--[endif]-->Thảm trạng Khủng Bố: Ngày 11/09/2001, khi Toà Tháp đôi, biểu tượng cho sự vững chắc và phát triển của nền kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ, bị tấn công sụp đổ hoàn toàn, thì lúc đó thế giới bắt đầu bước vào thế trực diện với một cuốc chiến tranh mới cuộc chiến chống khủng bố. Thực tế đã cho thấy không còn cuộc chiến tranh lạnh giữa hai cực Tư Bản Chủ Nghĩa và Xã Hội Chủ Nghĩa. Nhưng hòa Bình thế giới luôn bị đe doạ qua các cuộc xung đột khu vực, qua các cuộc chiến tranh dầu mỏ ở vùng vịch, qua các xung đột Tôn giáo, đặc biệt là những cuộc tấn công khủng bố. Con người không tạo ra những cuộc chiến tranh thế giới nữa, nhưng là những cuộc tấn công tàn sát qui mô nhỏ nhưng thiệt hại lại năng nề và gây bất an, bất ổn cho mọi người. Khủng bố là một trong những hình thức bạo lực tàn ác nhất gây kinh hoàng cho cộng đồng thế giới hiện nay; nó gieo hận thù, chết chóc, cũng như thôi thúc báo thù và trả đũa. Khủng bố nay đã trở thành một mạng lưới mờ ám của việc kết cấu chính trị. Người ta có thể sử dụng cả công nghệ tinh vi, nắm trong tay nguồn tài chính khổng lồ và chẳng ngần ngại tham gia vào việc lên kế hoạch ở cấp độ vĩ mô, đánh thẳng vào những người hoàn toàn vô tội, biến họ thành những nạn nhân tình cớ của các hành động khủng bố. (Tóm lược Học thuyết Xã Hội Giáo Hội Công giáo, số 513)
<!--[if !supportLists]-->3.        <!--[endif]-->Thách đố về Nhân Quyền :
3.1 Theo Hội đồng Giáo Hoàng Về Công Lý Và Hoà Bình thì vấn đề nhân quyền chiếm tầm quan trọng ngày càng lớn trong sứ vụ của Giáo Hội và cũng theo đó, trong công việc của Hội đồng Giáo hoàng. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II thường xuyên nhấn mạnh rằng phẩm giá của con người là nền tảng cho sự bảo vệ và thăng tiến các quyền cơ bản của người đó.  Ngày nay, các quyền con người đang bị xâm phạm nặng nề, với đủ loại chiến tranh và bạo lực. Việc mở rộng chưa từng thấy gần như trên toàn thế giới những hình thức của sự nô lệ như buôn bán phụ nữ và trẻ em, bóc lột sức lao động, buôn bán ma tuý trái phép. Thảm trạng phá thai ngày càng khủng khiếp, người ta có thể nhân danh sự sống để tiêu diệt sự sống từ trong trứng nước. Ngay tại những nước có chính phủ theo thể thức dân chủ, nhân quyền không phải lúc nào cũng được tôn trọng. Nguyên nhân là người ta chỉ nhìn nhận các quyền này một cách hết sức hình thức. (Tóm lược Học thuyết Xã Hội Giáo Hội Công giáo, số 158)
3.2 Những Thách đố đến từ  môi trường chính trị xã hội thiếu tôn trọng tự do Tôn giáo : Ngày nay, tiếc thay, quyền tự do tôn giáo “ đang bị nhiều nhà nước vi phạm, thận chí tới mức giảng dạy Giáo lý, nhờ người giảng day giáo lý và tiếp thu giáo lý đều trở thành những hành vi phạm pháp có thể bị trừng phạt.” (Gioan Phaolô II, Tông huấn Catechesi Tradendae, số 14). Trên thế giới ngày nay người ta ghi nhận vẫn còn những cuộc bách hại, kỳ thị, những hành vi bạo lực và bất bao dung dựa trên tôn giáo. Đặc biệt tại Á, Phi, các nạn nhân chính vẫn là những phần tử của các nhóm tôn giáo thiểu số, người ta cấm họ không được tự do tuyên xưng tôn giáo của mình hoặc thay đổi tôn giáo, qua những hành vi doạ nạt hoặc vi phạm các quyền, các tự do cơ bản và những tài sản thiết yếu, đến độ tước đoạt tự do bản thân và cả sinh mạng của họ nữa. Có những hình thức tinh vi hơn thù nghịch chống lại tôn giáo, tại các nước Tây Phương, những hình thức này đôi khi được biểu lộ qua sự chối bỏ lịch sử và các biểu tượng tôn giáo trong đó có phản ánh căn tính và văn hóa của đại đa số công dân. Những hình thức đó thường nuôi dưỡng oán ghét và thành kiến, và không phù hợp với quan niệm trong sáng và quân bình về sự đa nguyên và đặc tính đời của các tổ chức chính quyền, không kể sự kiện các thế hệ trẻ có nguy cơ không được tiếp xúc với gia sản tinh thần quí giá của quê hương họ (Bênêdictô XVI, Sứ điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình 2011, số 13).
<!--[if !supportLists]-->II.      <!--[endif]-->Những Yêu Sách Về Công Lý Và Hoà Bình Ở Thời Đại Hôm Nay
<!--[if !supportLists]-->1.        <!--[endif]-->Yêu Sách Từ Đòi Hỏi Của Sứ Vụ Loan Báo Tin Mừng:
<!--[if !supportLists]-->1.1        <!--[endif]-->Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi rao giảng Tin Mừng cho con người và thế giới cụ thể : Khi sai di, Ngài đã ra những chỉ thị rất cụ thể giúp người môn đệ biết phải làm gì để chu toàn sứ vụ. “Thầy sai các con đi như con chiên ở giữa sói rừng. Các con hãy đi khắp thế gian. Hãy khôn ngoan như con rắn và hiền lành như bồ câu. Đi đến đâu vào thành nào, nhà nào trước hết các con hãy chúc bình an cho họ. Hãy chữa lành những bệnh nhân, xua trừ ma quỷ…” Tất cả những huấn thị của Chúa Giêsu cho thấy người môn đệ phải lăn xả vào cuộc sống của anh em đồng bào và đồng loại, chia sẻ trọn vẹn cuộc sống với họ vui cũng như buồn, thuận lợi cũng như khó khăn. Cùng với họ đối diện, đương đầu với khó khăn thử thách và giúp họ biết dùng sức mạnh của Thiên Chúa, của Tin Mừng để giải quyết những vấn nạn của cuộc sống. Tám Mối Phúc Thật chính là những cách thế, những con đường để người môn đệ dấn thân đi vào lòng thế giới xây dựng một thế giới có công lý và hoà bình đích thực.
<!--[if !supportLists]-->1.2        <!--[endif]-->Vì thế, Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội minh định rõ ràng : Không có gì liên quan đến cộng đồng nhân loại, những tình huống và những vấn đề liên quan đến công lý, tự do, phát triển, quan hệ giữa các dân tộc, hoà bình mà lại nằm ngoài công cuộc Phúc Âm Hoá; việc Phúc Âm Hoá sẽ thiếu sót nếu không xét tới các đòi hỏi liên tục của Tin Mừng đối với đời sống cá nhân và và xã hội cụ thể của con người. Giữa việc Phúc Âm hoá và việc thăng tiến con người có những mối liên hệ hết sức sâu xa : “ Trong đó có mối liên hệ thuộc phạm vi nhân học, vì con người được Phúc Âm hoá không phải là một hữu thể trừu tượng mà là một hữu thể lệ thuộc các vấn đề kinh tế và xã hội... Trên bình diện cứu chuộc đụng chạm tới chính những tình huống bất công cụ thể cần phải đấu tranh và những tình huống công bằng cụ thể cần phải được khôi phục. Trong đó còn có mối liên hệ nổi bật thuộc phạm vi Tin Mừng, tức là phạm vi Đức Ái: làm sao có thể cống bố điều răn mới mà không tìm cách thăng tiến con người một cách đích thực trong công lý và hoà bình. (Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, số 66)
<!--[if !supportLists]-->2.        <!--[endif]-->Yêu Sách Từ Con Người Và Thế Giới Hôm Nay: Công đồng Vaticanô II khẳng định : “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ.” (GS No 1). Nói cách khác, Giáo Hội Công Giáo cũng sẽ phải lắng nghe những đòi hỏi của con người, của dân tộc, của xã hội mà mình dấn thân phục vụ. Khi chọn lựa đứng về phía người nghèo khổ, đau khổ, bất hạnh thì măc nhiên cũng cho họ được quyền đòi hỏi Giáo Hội và các môn đệ Đức Kitô phải bênh vực, phải lên tiếng và phải hướng dẫn họ theo ánh sáng Tin Mừng để đạt được công lý, bác ái và hoà bình ở hiện tại này. Giáo Hội có trách nhiệm phải lên tiếng thay cho họ.
Giáo Hội Công Giáo không thể đứng bên lề để quan sát thế giới  và những vận hành của nó nhưng phải hội nhập, là thành phần của nó. Cũng thế, từng Giáo Hội địa phương cũng không thể đứng bên lề xã hội mình đang chung sống mà phải hội nhập. Khi hội nhập như thế, người ta sẽ có những đòi hỏi, những yêu sách nhất là những vấn đề đụng chạm đến chân lý, tình thương và sự sống đòi Giáo Hội và môn đệ Đức Kitô phải trả lời. Giáo hội Công giáo phải là tiếng nói trung thực của công lý. Giáo Hội phải can đảm dấn thân bênh vực cho sự thật, cho sự sống, cho quyền con người.
<!--[if !supportLists]-->3.        <!--[endif]-->Yêu Sách Từ Giáo Hội đòi Hỏi Thế Giới: Với bối cảnh thế giới ở thời đại Toàn Cầu Hoá hiện nay, Giáo hội trong sứ mạng và trách nhiệm của mình có quyền lên tiếng để cống bố sứ điệp Tin Mừng của Đức Kitô. Cụ thể :
3.1. Tôn trọng Quyền tự do tôn giáo: Quyền tự do tôn giáo phải được nhìn nhận trong trật tự pháp lý và phải được phê chuẩn như một quyền dân sự. Chính phẩm giá của con người và chính bản chất của công cuộc tìm kiếm Thiên Chúa đòi phải để cho mọi người được tự do không bị một áp lực nào trong lãnh vực tôn giáo. Xã hội và nhà nước không đựơc cưỡng bách con người hành động ngược với lương tâm của mình hay không được ngăn cản con người hành động hợp với lương tâm của mình. (Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, số 421). Chính trong tự do tôn giáo có biểu lộ đặc tính của con người, nhờ tự do ấy con người có thể xếp đặt đời sống bản thân và xã hội của mình theo Thiên Chúa: dưới ánh sáng của Chúa, con người hiểu được trọn vẹn căn tính, ý nghĩa và cùng đích của mình. Phủ nhận hoặc giới hạn tự do tôn giáo một cách độc đoán có nghĩa là nuôi dưỡng một quan niệm hẹp hòi về con người, làm lu mờ vai trò công cộng của tôn giáo có nghĩa là tạo nên một xã hội bất công, vì không hợp với bản chất đích thực của con người; điều này có nghĩa là làm cho sự khẳng định một nền hòa bình chân chính và lâu bền của toàn thể nhân loại trở thành điều không thể thực hiện được. Tự do tôn giáo phải được hiểu không phải chỉ là không bị cưỡng bách, nhưng trước tiên như một khả năng xếp đặt các chọn lựa của mình theo chân lý. Có một mối liên hệ không thể tách rời giữa tự do và tôn trọng; lý do vì, ”luật luân lý bó buộc mọi người và mọi nhóm xã hội, khi thi hành các quyền của mình, phải để ý tới các quyền của người khác, cũng như tới những nghĩa vụ của mình đối với người khác và công ích của mọi người”. trong số các quyền và tự do cơ bản có căn cội trong phẩm giá con người, tự do tôn giáo có một qui chế đặc biệt. Khi tự do tôn giáo được nhìn nhận, thì phẩm giá con người được tôn trọng trong căn cội của nó và luân lý cũng như các định chế của các dân tộc được củng cố. Trái lại, khi tự do tôn giáo bị chối bỏ, khi toan tính ngăn cản việc tuyên xưng tôn giáo hoặc tín ngưỡng và cuộc sống phù hợp với tôn giáo, thì người ta xúc phạm đến phẩm giá con người, và đồng thời đe dọa công lý và hòa bình, là những điều dựa trên trật tự ngay thẳng của xã hội được xây dựng dưới ánh sáng của Sự Thật và Sự Thiện Tối Cao. (Xem ĐGH Bênêđictô XVI, Sứ điệp Ngày Thế Giới Hoà Bình 2011, số 3-6). Công đồng Vatiacanô II đã long trọng tái xác nhận rằng : “ Cộng đồng chính trị và Giáo hội độc lập với nhau và hoàn toàn tự trị trong địa hạt của mình.” (GS, số 76). Vì tôn trọng tự do tôn giáo, cộng đồng chính trị phải bảo đảm cho Giáo Hội có đủ không gian cần thiết để thi hành sứ mạng của mình. Giáo Hội có quyền được luật phát nhìn nhận bản sắc đúng của mình. Bởi đó Giáo Hội tìm cho được sự tự do phát biểu, tự do giảng dạy và loan báo Tin Mừng, tự do thờ phượng chung, tự do tổ chức và cai quản trong nội bộ của mình (Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, số 424, 426).
3.2. Xây dựng Tình liên đới trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị để kiến tạo công bằng, tôn trọng công ích : Môt trong những nhiệm vụ căn bản của những người tích cực tham gia vào các vấn đề kinh tế thế giới là làm sao thực hiện cho nhân loại một sự phát triển toàn diện trong tình liên đới, tức là phát huy điều tốt của mỗi người và của toàn thể con người (Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, số 373).
3.3. Hoà bình là kết quả của công lý và Bác ái : Hoà bình là một giá trị và là một nghĩa vụ của hết mọi người dựa trên trật tự hợp lý và luân lý của xã hội, trật tự này bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, là nguồn sống đầu tiên, là sự thật căn bản và là sự thiện hảo tối cao. Hoà bình không phải chỉ là không có chiến tranh cũng không phải hạ thấp xuống tới mức chỉ là giữ cho các bên thù địch nhau cân bằng về quyền lực; mà đúng hơn hoà bình đựơc xây dựng trên việc hiểu đúng con người và đòi phải thiết lập đựơc một trật tự dựa trên nền tảng công lý và bác ái. Hoà bình là kết quả của công lý được hiểu là tôn trọng phẩm giá con người. Trao cho con người những gì là của mình. Bảo vệ và phát huy các quyền con người là điều kiện cần thiết để xây dựng một xã hội hoà bình và để phát triển toàn diện các cá nhân, các dân tộc và các quốc gia. Hoà bình đích thực là kết quả của tình yêu hơn là của công lý. Hoà bình tự chính bản thân là một hành động và là những thành quả chỉ xuất phát từ tình yêu. Hoà bình được xây dựng dần dần khi người ta theo đuổi một trật tự như Chúa muốn và hoà bình chỉ thăng hoa khi mọi người đều công nhận ai ai cũng có trách nhiệm xúc tiến hoà bình. Một lý tưởng hoà bình không thể nào có được nếu đời sống ấm no của con người chưa được bảo đảm và nếu người ta chưa được tự do và tin tưởng chia sẻ với nhau những sự phong phú của trí tuệ và tài năng của mình.
      Giáo huấn của Giáo Hội về xã hội triển khai Lời Chúa là nguồn ánh sáng chân lý về sự sống con người cùng nhân phẩm và nhân quyền, về gia đình và cộng đồng xã hội, về các mối quan hệ xã hội cùng bang giao giữa các dân tộc.  Ban Công Lý Và Hoà Bình có trách nhiệm phổ biến giáo huấn đó nhằm soi đường dẫn lối cho mọi thành phần dân Chúa đưa những giá trị Tin Mừng, những giá trị nhân bản, vào trong đời sống văn hoá và xã hội, kinh tế tài chính và chính trị của cộng đồng nhân loại hôm nay (x. Thông điệp "Tình Yêu trong Chân Lý"). Đó là con đường cộng đồng dân Chúa thi hành sứ vụ Phúc Âm hoá những thực tại trần thế, hướng đến xác lập một nền nhân bản mới cùng một trật tự xã hội mới cho trong thế giới toàn cầu hoá hôm nay.(Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn, Lời chủ chăn 05/2011)
Thách đố thì nhiều, khó khăn thì phức tạp nhưng trong ánh sáng Đức Tin thì đó lại là con đường thập giá mới của Giáo Hội trên đường sứ vụ. Công Lý và Hoà bình là chọn lựa đúng đắn theo tác động của Chúa Thánh Thần ở thời đại hôm nay để Giáo Hội can đảm dấn thân thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Đức Kitô Phục Sinh. Có thách đố, có khó khăn nhưng lại làm nảy sinh cơ hội để Giáo Hội thu hoạch một vụ mùa bội thu.



THÔNG ĐIỆP FIDES ET RATIO

ÐẠI CƯƠNG VỀ THÔNG ÐIỆP FIDES ET RATIO CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II





Gần đây Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhấn mạnh nhiều về vai trò của đức tin và lý trí trong những bài nói chuyện của Ngài. Để giúp các bạn trẻ có một cái nhìn tương đối đầy đủ về sự liên quan giữa đức tin và lý trí, chúng tôi mạn phép dịch bài tóm tắt Thông Điệp “Fides et Ratio - Đức Tin và Lý Trí” của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II của GS. Phillip B. Liescheski để chia sẻ với các các bạn.



Tại sao Ðức Thánh Cha [Gioan Phaolô II] lại viết một thông điệp về đức tin và lý trí? Có phải vì đức tin và lý trí đối nghịch với nhau? Có phải vì chúng ta đang sống trong thời kỳ mất đức tin không? Nhưng tại sao ngài lại gồm cả lý trí? Ðức tin và lý trí có liên hệ gì với nhau? Ðức tin có cần lý trí không và ngược lại lý trí có cần đức tin không? Có phải lý trí bị lâm nguy trong thời đại khoa học kỹ thuật không? Đức Thánh Cha nói đến những vấn đề này và nhiều vấn đề khác trong Thông Ðiệp Đức Tin và Lý Trí.



Ít ra đối với phần đông Kitô hữu (kể cả anh em Tin Lành), chúng ta có một căn bản chung là Thánh Kinh. Thực sự là có những sự bất đồng trong việc giải thích và quy điển Thánh Kinh giữa Công Giáo và Tin Lành, nhưng vẫn có nhiều điểm tương đồng. Thánh Kinh có thể dùng làn nền tảng cho những cuộc đối thoại trí thức giữa Công Giáo và Tin Lành. Nhưng đối với những người vô thần và vô tri, thì nền tảng chung trở nên mờ ảo hơn. Vì họ phủ nhận sự hiện hữu hay vai trò quan trọng của Thiên Chúa, nên Lời Ngài càng không đáng tin cậy đối với họ. Chỉ có thể còn một nền tảng chung là lý trí. Như Thánh Phêrô viết: "Anh em hãy luôn sẵn sàng giải thích cho bất cứ ai hỏi anh em về lý do của niềm hy vọng của anh em, nhưng hãy làm điều đó với sự khoan dung và kính cẩn" (1 Phr 3:15-16). Tiếc rằng một số người vô thần có thể cũng vô lý và giáo điều như một số Kitô hữu. Chúng ta nên nhớ, như Thông Ðiệp này đã nhận ra, rằng: "Nếu con người với trí thông minh không nhận ra Thiên Chúa là Ðấng Sáng Tạo mọi sự, không phải vì họ thiếu phương tiện, nhưng vì ý chí tự do và tội lỗi của họ cản đường" (Fides et ratio 19).



Tôi không phải một triết gia chuyên nghiệp, nên theo một nghĩa nào đó, tôi không đủ khả năng nói bài này. Nhưng theo một nghĩa khác, triết học ảnh hưởng đến tất cả chúng ta, nên chúng ta cần nhận chân được chiều hướng hiện tại của nó. Triết lý là nền tảng của các hệ thống chính trị, Mácxít chẳng hạn. Tất cả chúng ta là những tư tưởng gia đang cố công thu thập kiến thức. Tin đồn đương nhiên là một thí dụ xấu của nhu cầu này.Tất cả chúng ta đều muốn biết sự thật. Có người muốn đánh lừa người khác, nhưng rất ít người muốn bị đánh lừa. Thông điệp này nói về những vấn đề có ảnh hưởng đến tất cả chúng ta.



Hy vọng rằng có một giây phút nào đó chúng ta suy tư về mục đích của đời mình. Phải chăng chúng ta chỉ là một quái vật ngẫu nhiên sinh ra trong vũ trụ cần một mục đích, hay là chúng ta được dựng nên với một mục đích? Thông Ðiệp này mở đầu bằng những câu hỏi như "Tôi là ai? Tôi từ đâu đến và tôi đang đi về đâu? Tại sao có sự dữ? Sau cuộc đời này còn có gì?" Những câu trả lời (hay không có câu trả lời) cho những vấn nạn căn bản này về ý nghĩa cuộc đời "quyết định hướng đi mà con người tìm kiếm cho đời sống mình" (Ibid.).



Mặc dù sống trong thời đại khoa học, chúng ta vẫn có thể còn rất nhiều phi lý. Chúng ta nghe nói nhà trường đã thất bại trong việc giáo dục thế hệ tương lai như thế nào. Cũng như vì truyền hình, truyền thanh, báo chí tuyên bố rằng họ có những câu trả lời, nên chúng ta không cần phải suy nghĩ. Chúng ta đơn thuần chấp nhận những xu hướng phổ thông mà không thắc mắc gì cả. Theo thiển ý của tôi, khoa học và kỹ thuật đã làm cho chúng ta trở thành những người suy nghĩ cụ thể. Chúng ta càng ngày càng quan tâm đến thế giới vật chất và nhận thức giác quan của chúng ta về nó. Thuế má và thuốc ngừa bệnh có thể giải quyết những vấn nạn xã hội. Ðã lâu rồi, khi học đại số trừu tượng, tôi đã than với vị giáo sư là tôi không thấy thoải mái về đề tài này. Trong lớp tôi học được, nhưng tôi cảm thấy bị lạc, hay ít ra, tôi nghĩ là mình thiếu một điều gì quan trọng. Câu trả lời của vị giáo sư là: "Ờ, nó trừu tượng mà!" Khi đó tôi mới nhận ra rằng mình cũng là một người suy nghĩ cụ thể.



Dù chúng ta cho rằng mình đang sống trong "thời đại của lý trí", vậy mà lý trí tân thời vẫn có những trở ngại lớn lao. Trở ngại đầu tiên mà Đức Thánh Cha đề cập đến là "Hoài Nghi". Vì chỉ suy nghĩ cách cụ thể nên chúng ta rất dễ bỏ qua những tư tưởng trừu tượng. Theo thuyết Hoài Nghi thì chỉ có những kiến thức thu lượm được do quan sát những gì là vật chất là quan trọng. Chúng ta chỉ biết nhờ ngũ quan. Những kiến thức liên quan đến những tư tưởng trừu tượng, như tình yêu, thẩm mỹ và Thiên Chúa là những ý nghĩ ngu xuẩn hay kỳ quặc. Những quan niệm trừu tượng như tự do và công lý cũng bị xuyên tạc hoặc phải đi đôi với những gì cụ thể. Thuyết Hoài Nghi cho rằng lý trí chỉ giới hạn bởi những gì giác quan cảm nhận. Tư tưởng nào vượt ra ngoài những gì là vật chất đều không quan trọng.



Trở ngại thứ nhì với lý trí tân thời là sự tự trị và độc lập giả tạo. Sự tự trị giả tạo này của lý trí gọi là "Chủ Nghĩa Duy Lý". Chủ Nghĩa Duy Lý cho rằng kiến thức của con người không cần đến đức tin. Tất cả mọi kiến thức mà chúng ta cần đều có thể tự kiểm chứng được bằng giác quan và kinh nghiệm cá nhân của mình. Chúng ta không cần phải tin gì cả vì chúng ta có thể tự chứng minh được. Lý trí thay thế đức tin. Tiếc rằng sự tự tin này thiếu thành thật. Vì bị giới hạn bởi thời gian và tài nguyên, ngay cả các khoa học gia cũng phải nhìn nhận một ít ý thức về đức tin, có thể đó không phải là siêu nhiên. Theo Thông Ðiệp này, "con người - người tìm chân lý - cũng là người sống theo đức tin" (Fides et ratio, 31).



Bây giờ đối với tất cả nhân loại, có hai cách để biết: đức tin và lý trý. Ðức tin là biết qua sự tin tưởng. Lý trí là biết qua suy nghĩ, quan sát hay kinh nghiệm cá nhân. Chúng ta cần cả hai cách để biết. Sự hiểu biết nhờ lý trí mà thôi thì quá giới hạn. Cả hai cần phải cùng nhau phát triển. Thí dụ, tôi chưa bao giờ đến Paris. (Tôi hầu như đến đó, nhưng chuyến bay của tôi bị quay trở lại). Tôi không có kinh nghiệm trực tiếp về thành phố này. Lúc này trong đời tôi, tôi chỉ tin rằng thành phố này có thật. Tôi phải tin rằng có Paris qua niềm tin; tuy nhiên, niềm tin tự nhiên này không phải là một "bước mù quáng". Tôi có đủ lý do để tin rằng Paris thật sự là một thành phố. Có một điểm hội tụ của các chứng cớ: tôi nghe bạn bè đã ở đó nói về thành phố ấy. Tôi đọc nhiều sách, báo cáo và các bài báo liên quan đến Paris. Có thể bạn tôi nói dối, và các bài báo có thể sai, nhưng vẫn khó mà chấp nhận rằng tất cả đều sai.



Các khoa học gia phải lệ thuộc vào niềm tin tự nhiên. Họ phải tin tưởng nhau. Mỗi khoa học gia không có thì giờ và tài nguyên để tự mình kiểm chứng tất cả mọi thí nghiệm và đo lường. Họ phải tin vào những bài viết về khoa học. Vậy niềm tin là kiến thức được nuôi dưỡng bằng sự liên hệ cá nhân, và chúng ta cần có niềm tin. Trong khoa học niềm tin này được nuôi dưỡng bằng "cộng đồng khoa học". Niềm tin này không phải là một "bước mù quáng" nhưng được hỗ trợ bằng lý trí. Những bài viết trên các sách báo khoa học được duyệt xét cẩn thận bởi các khoa học gia khác. Nếu một khoa học gia nào có bằng chứng là thiếu lương thiện, thì niềm tin này bị tan vỡ, và công việc của người đó bị mất tín nhiệm. Người đó phải giải nghệ.



Vậy đức tin cũng thúc đẩy chúng ta theo đuổi lý trí. Theo Thông Ðiệp này, "Chính đức tin hướng dẫn lý trí vượt qua mọi cô lập và sẵn sàng mạo hiểm để nó có thể đạt được những gì là chân, thiện, mỹ. Ðức tin như thế trở nên biện hộ vững chắc và hợp lý cho lý trí" (Fides et ratio, 56). Tất cả khoa học vật lý trên căn bản cho rằng chúng ta có thể tìm hiểu được vũ trụ vật chất. Vũ trụ tự nó đáng được nghiên cứu và không đơn giản để khám phá. (Khoa học nghiên cứu về vũ trụ để biết vũ trụ là gì, trong khi kỹ thuật và kỹ sư nghiên cứu vũ trụ để chế ngự nó). Không có điều căn bản này, là một niềm tin chưa chứng minh được, rất ít người muốn bỏ giờ ra nghiên cứu vũ trụ và những điều cơ bản của vật chất. Hãy trực diện điều này: nghề nghiệp của các kế toán gia và y tá thì vững chắc hơn nghề nghiệp của các khoa học gia. Thông điệp này nhìn nhận rằng, "Chính và cũng một Thiên Chúa là Ðấng đảm bảo điều dễ hiểu và hợp lý của trật tự tự nhiên của vạn vật mà các nhà khoa học dựa vào một cách đầy tin tưởng, và là Ðấng tỏ mình ra là Cha của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Feides et ratio, 34). Ở đây, Đức Thánh Cha dẫn chứng về Galilêô trong chú thích số 29: "Thánh Kinh và thế giới tự nhiên đều tiến hành cách bình đẳng từ Lời Thiên Chúa, Thánh Kinh được Chúa Thánh Thần viết, thế giới tự nhiên thừa hành cách trung tín lề luật của Thiên Chúa".



Trong năm cuối cùng của chương trình Tiến Sĩ của tôi, những thí nghiệm của tôi vẫn chưa đem lại kêt quả mỹ mãn. Những thí nghiệm này đáng lẽ phải đem lại kết quả tốt, nhưng có một việc gì lạ lùng xảy ra. Tôi thất vọng và hầu như tuyệt vọng. Tôi than thở với giáo sư giám hộ của tôi. Ông trả lời: "Hỡi kẻ yếu tin!" Dầu tôi đang theo đuổi một văn bằng cao cấp về khoa học ở một đại học đời, tôi vần cần lòng tin để giúp tôi vượt qua những lúc khó khăn.



Như kết quả của đức tin siêu nhiên vào một Ðấng Tạo Hóa thông minh, là Ðấng không muốn lừa dối ai, khoa học hiện đại phát sinh từ Kitô Giáo thời trung cổ. Người Trung Hoa và Hy Lạp cổ xưa là những người rất thông minh. Người Trung Hoa khám phá ra thuốc súng, hỏa tiễn đầu tiên và la bàn. Người Hy Lạp phát minh ra máy hơi nước và hình học. Nhưng vì các tôn giáo có tính cách phiếm thần, họ không tin vào sự dễ hiểu của vũ trụ. Người Hy Lạp tin rằng thiên nhiên là thần thánh nên không thể hiều thấu được. Những người này có óc thông minh, nhưng không có hứng thú để theo đuổi khoa học. Theo Stanley Jaki thì khoa học trong những nền văn hóa này còn 'phôi thai".



Tức cười là "thuyết Darwin, " thuyết tiến hóa vô thần, cho rằng vũ trụ là một quái thai của sự ngẫu nhiên. Nếu vũ trụ là một sự tình cờ, thì nó có đáng cho chúng ta nghiên cứu không? Một sự ngẫu nhiên thì không có mục đích gì. Và thường những gì xảy ra tình cờ thì cũng lộn xộn. Nếu trên căn bản vũ trụ lộn xộn, thì nó không thể hiểu thấu được. Quyết đoán này của Darwin có thể đem đến cho những ai muốn nghiên cứu khoa học những nghi ngờ. Thuyết Darwin không chỉ đả phá Kitô giáo mà còn đả phá cả những khích lệ cơ bản cho việc theo đuổi khoa học.



Nhưng đức tin siêu nhiên thì sao? Ðức Tin siêu nhiên là nền tảng cho Kitô giáo. Nó liên quan đến lý trí tự nhiên thế nào? Theo Thông Ðiệp, "Mặc dầu đức tin, một món quà Thiên Chúa ban, không dựa trên lý trí, chắc chắn không được ban phát với lý trí. Đồng thời rõ ràng là lý trí cần phải được củng cố bằng đức tin để khám phá ra những chân trời ngoài phạm vi của nó" (Fides et ratio, 67). Lý trí có thể mở trí khôn cụ thể của chúng ta ra để rồi ý chí chúng ta dễ đón nhận ân sủng của đức tin siêu nhiên. Thí dụ câu hỏi căn bản "Tại sao có còn hơn không?" (Fides et ratio, 76) có thể làm cho chúng ta nhận ra rằng có một cái gì thiếu sót nếu chỉ dùng cảm quan. Lý trí cũng giúp đức tin không sa vào mê tín dị đoan. Lý trí có thể phê phán đức tin của chúng ta. Thông Ðiệp này nói rằng: "Thật là một ảo tưởng khi nghĩ là một đức tin, được liên kết với những lý lẽ yếu ớt, có thể là đức tin sâu sa hơn; ngược lại, đức tin đó dễ bị sa lầy vào hoang đường và mê tín" (Fides et ratio, 48). Một lạc giáo liên quan đến đức tin là thuyết "Duy Tín", cho rằng đức tin siêu nhiên thì quá trổi vượt trên lý lẽ tự nhiên đến nỗi lý trí không có ích gì cho đức tin. Tiếc thay Thuyết Duy Tín làm cho đức tin trở nên một sự tin tưởng cá nhân hay một "bước mù quáng". Như Thánh Phêrô đã khuyến khích rằng lý trí có thể giúp chúng ta giải thích đức tin một cách hay hơn cho những người không có cùng một niềm tin như chúng ta. Ngược lại, đức tin siêu nhiên có thể cung cấp cho lý trí một sức sinh động và mới mẻ. Một lần nữa, theo Thông điệp: "Cũng thế, lý trí mà không liên kết với một đức tin trưởng thành thì không được thúc đẩy nhìn đến sự mới mẻ và căn bản của sự vật" (Fides et ratio, 48). Ðức tin có thể giải thoát lý trí khỏi sự lệ thuộc hoàn toàn vào cảm quan. Như trong khoa học, đức tin có thể thúc đẩy chúng ta theo đuổi các lý lẽ xa hơn nữa để thu lượm được nhiều kiến thức. Theo kết luận của Thông Ðiệp: "Hội Thánh vẫn tin tưởng một cách sâu xa rằng đức tin và lý trí ‘hỗ tương nhau’; chúng ảnh hưởng lẫn nhau khi chúng trao đổi những phê phán làm cho nhau thêm tinh tuyền, và khuyến khích nhau trong việc theo đuổi tìm kiếm để hiểu biết sâu xa hơn” (Fides et ratio, 100).



Mặc dù tôi đã nói chính về đức tin và lý trí, vì đề tài của Thông Ðiệp là "Ðức Tin và Lý Trí", Thông Ðiệp này thực ra cũng quan tâm đến liên quan giữa triết học và thần học. Cả hai đều cần sự tự trị hợp lý, nhưng chúng có hiệu quả hơn nếu chúng tác động lẫn nhau. Triết học là một khối kiến thức được xắp xếp có thứ tự để giải thích một điều gì. Tương tự như lý trí, nó bắt đầu từ cảm quan. Trái lại, thần học cũng là một khối kiến thức nhằm mục đích giải thích một điều gì, nhưng nó bắt đầu từ Lời Chúa mặc khải. Nó liên quan đến cả đức tin lẫn lý trí. Vì hai môn học đó bắt nguồn từ hai khởi điểm khác nhau, nên chúng cũng khác nhau. Nhưng chúng ta có thể dùng cả hai để hiểu thêm về Thiên Chúa. Dựa vào thế giới tự nhiên dễ hiểu, triết học có thể dùng lý luận để chứng minh rằng có Thiên Chúa như là một Nguyên Lý Tuyệt Ðối. Nhưng triết học không thể biết gì về Chúa Ba Ngôi. Chỉ nhờ mặc khải và thần học mà chúng ta mới hiểu biết hơn về Thiên Chúa là Chúa Ba Ngôi.



Trước khi kết luận, Đức Thánh Cha đã vạch ra một số dòng tư tưởng triết học hiện đại mà trên căn bản có tính cách sai lạc. Trước hết, "Thuyết Chiết Trung", như tên của nó ám chỉ, là một phương thức vay mượn tư tưởng từ nhiều triết lý khác nhau mà không quan tâm đến sự thích hợp hay mạch lạc nội tại của chúng. Nó là "một mớ tư tưởng hỗn tạp". Thứ nhì, "Thuyết Duy Sử" cho rằng không có chân lý nào vượt thời gian cả. Một điều đúng ở giai đoạn lịch sử này có thể sai ở giai đoạn lịch sử khác. Nó liên quan mật thiết với Thuyết Ðổi Mới. Kế đến là thuyết "Duy Khoa Học", tương tự như thuyết Duy Lý và thuyết Duy Nghiệm, cho rằng chuúg ta chỉ có thể thu thập được những kiến thức chắc chắn qua những phương pháp khoa học. Nó cho người ta cảm giác rằng những gì kỹ thuật có thể làm được thì theo luân lý cũng được phép làm. "Thuyết Duy Thực", là thuyết rất phổ thông ở Anh Quốc và Hoa Kỳ, là một thái độ tư tưởng trong đó quyết định được dựa trên kết quả và sự thực dụng. Tất cà những cân nhắc có tính cách lý thuyết đều bị bác bỏ. Bất cứ hành động nào đem lại kết quả mong muốn đều là hành động tốt. Sau hết tất cả những triết thuyết trên đưa đến "Thuyết Hư Vô". Ðó là việc chối bỏ nhân phẩm và số phận đời đời của con người. Hư vô là một kết luận hợp lý cuối cùng và chân thật rằng không có Thiên Chúa chúng ta không là gì cả. Ðó là sự tuyệt vọng của thuyết vô thần. Những triết thuyết này có khuynh hướng chối từ sự cần thiết Thiên Chúa và tuyên xưng một sự tự lập giả tạo. Như Thông Ðiệp ghi nhận: "Vì thế giới được tạo dựng không thể tự túc, mọi ảo ảnh về tự lập trong đó chối từ sự lệ thuộc cần thiết vào Thiên Chúa của mọi tạo vật - kể cả loài người - đều đưa đến những hoàn cảnh bi đát làm tan vỡ việc tìm kiếm hợp lý sự hòa hợp và ý nghĩa của đời sống con người" (Fides et ratio, 80).



Tóm lại, vì hoàn cảnh con người của chúng ta, chúng ta cần cả đức tin lẫn lý trí để phát huy kiến thức. Cả hai phải đi song đôi với nhau. Vì tôi không phải là một triết gia mà cũng không phải là một thần học gia, nên xin ngừng ở đây. Xin đọc Thông Ðiệp này. Cám ơn quý vị vì thì giờ và sự kiên nhẫn quý vị dành cho tôi.



(Nguồn: Phillip B. Liescheski, ngày 14/5/1999, do Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ)

LINH MỤC

Đời sống linh mục là một đời sống khó khăn

T5, 21/07/2011 - 11:50


Thưa những anh em của tôi trong đời sống linh mục, đời sống của chúng ta không phải là một đời sống dễ dàng. Một số người đã chọn cho mình đời sống trong những đan viện khắc khổ có lẽ không lạ gì khi mình đang có một đời sống khó khăn vất vả. Bất cứ ai quen thuộc với đời sống của một đan sĩ Xitô hay một ẩn sĩ dòng Thánh Brunô hẳn biết rằng các vị này cam kết sống một đời sống từ bỏ và đền tội mà tu luật của họ đề ra. Khi nhìn thoáng qua, dường như đời sống của một linh mục đang làm việc mục vụ có vẻ dễ dàng hơn. Vì có tiền trong túi (có thể là không nhiều), xem ra chúng ta cũng tự do, và đời sống chúng ta coi như chẳng phải quá khắc khổ hay quá khắc nghiệt. Rồi một lúc nào đó bỗng có những giáo dân đến hỏi nhiều người linh mục chúng ta rằng: “Dạ thưa cha, cứ sáng cha làm lễ xong rồi cả ngày cha làm gì vậy?”. Điều ngụ ý ở đây là một khi đã làm lễ xong chúng ta chẳng còn gì phải làm nữa, và điều này có thể chẳng có gì là quá xa vời so với sự thật.

Đời sống linh mục là một đời sống khó khăn. Mỉa mai thay, chúng ta đã có thể có nhiều ơn gọi linh mục hơn nữa nếu như những người trẻ của chúng ta nhận thấy đời sống của chúng ta thật sự là một đời sống không dễ dàng. Rất nhiều những bạn trẻ quảng đại muốn cam kết cuộc sống của họ trong một đời sống đầy thách đố, nhưng đem lại một ý nghĩa cao đẹp nhất định nào đó. Có lẽ đây là một trong những lý do tại sao gần đây những nhóm tu hành khó khăn hơn và truyền thống hơn lại gia tăng ơn gọi rất nhiều. Người trẻ ao ước một đời sống mang ý nghĩa và đầy thách thức. Đời sống linh mục, nếu sống với sự chân thật, chính là một đời sống như thế.

Một trong những điều khó khăn cho những linh mục đang sống trong giai đoạn hoàn toàn cho công tác mục vụ của mình đó là sự khổ chế về thời gian. Thời gian của chúng ta không còn là của riêng chúng ta nữa. Một cha xứ hay một cha tuyên uý gần như luôn sống trong tình trạng sẵn sàng và khẩn cấp ngày cũng như đêm. Người ta sẽ thật sự kêu đến chúng ta bất cứ khi nào. Người cha hay người mẹ có đứa con vừa qua đời sẽ kêu ngay đến vị linh mục. Những em nhỏ trong bệnh viện đang đau buồn nhìn cha mẹ của mình quằn quại trên giường bệnh sẽ chạy tới vị linh mục và mong chờ được ngài tới viếng thăm. Những người cô đơn và gặp rắc rối sẽ tìm đến chúng ta để mong được sự thông cảm và an ủi. Tất cả những nhu cầu như thế này không bao giờ chỉ đơn giản gói gọn trong một thời khoá biểu cố định của chúng ta từ 9 giờ sáng tới 5 giờ chiều. Rất nhiều khi chúng ta rơi vào cảm giác là “chúng ta không có một cuộc sống riêng của chính mình”. Như thế, điều tôi muốn nói ở đây là thật sự chúng ta không có nhiều thời gian và không gian cho chính mình nữa. Điều này là rất thật, từ bỏ việc làm chủ thời gian của chính mình là một điều hy sinh hết sức lớn lao, tuy nhiên, ngay cả một vị ẩn tu, người cam kết sống một cuộc sống yên ổn trong đan viện cũng mất đi quyền kiểm soát chính thời gian và không gian của mình.

Sự đòi hỏi về thời gian và sức lực của chúng ta thật tàn nhẫn, và đôi lúc trở nên quá sức chịu đựng. Mỗi gia đình trong xứ đạo đều có câu chuyện đời sống riêng của họ. Mỗi cá nhân đều có những giây phút cảm nghiệm niềm hạnh phúc và sự đau khổ của riêng mình. Nếu chúng ta càng dành nhiều thời gian cho việc mục vụ của chúng ta, cơ hội chúng ta tiến sâu vào câu chuyện đời sống của giáo dân chúng ta càng nhiều. Rất nhiều người kêu mời linh mục chia sẻ với họ trong nhiều cách thế nhỏ bé khác nhau, ví dụ như đơn giản lắng nghe những tin tức của họ bên ngoài những cánh cửa nhà thờ sau mỗi thánh lễ Chúa Nhật, và cũng có khi trong những việc lớn lao hơn như cùng đồng hành với gia đình họ trong hành trình sống. Chia sẻ cuộc sống với những người chúng ta được sai tới phục vụ là một trong những niềm vui lớn lao nhất, nhưng đồng thời cũng là một trong những gánh nặng ghê gớm nhất. Nếu vị linh mục là người thật sự có tâm hồn chăm lo cho giáo dân, ngài sẽ thật sự cảm thấy đau buồn với những mất mát mà giáo dân mình đang phải chịu, đồng thời ngài cũng cảm thấy vui mừng khi giáo dân của mình sống trong những phút giây của niềm vui và hạnh phúc.

Đời sống chúng ta là một đời sống mang đậm nét tình cảm phong phú và mãnh liệt, nhưng nó cũng có thể là một đời sống cạn kiệt khô cằn. Người ta sẽ không kêu mời chúng ta khi mọi sự đang diễn ra một cách tốt đẹp, mà họ cần đến chúng ta khi họ gặp sự rắc rối hay thảm hoạ, hay họ cũng sẽ liên hệ với chúng ta khi họ gặp những niềm vui lớn ví dụ như là một người nào đó sắp sửa lập gia đình, hay họ tổ chức thôi nôi cho con cái. Chẳng lạ lẫm gì đối với một cha xứ vừa mới cử hành thánh lễ an táng xong thì lại chạy đi ngay tới một nơi khác để làm lễ và chứng hôn cho đôi bạn trẻ, và ngay sau đó là tiệc đám cưới hoành tráng và vui tươi. Linh mục sống đời mục vụ luôn sống trong sự căng thẳng của nó.

Trong đời sống linh mục, chúng ta luôn được cảnh báo về sự giới hạn của chúng ta so với những nhu cầu của con người như dòng thác lũ vây quanh chúng ta. Đơn giản là chúng ta không thể nào có thể đáp ứng lại toàn bộ tất cả những nhu cầu đó, cũng như tất cả các đòi hỏi hợp lý khác. Những nghiên cứu thống kê đưa ra kết qủa chắc chắn là các linh mục luôn phải vật lộn với đủ mọi công việc. Vấn đề đứng thứ hai và thứ ba mà vào năm 2001 hầu hết các linh mục đều chứng thực trong một khảo cứu được tài trợ bởi hội đồng quản trị của Liên đoàn các Linh mục của Hoa Kỳ đã nêu lên đó là “quá nhiều công việc” và “quá nhiều đòi hỏi và mong đợi không thực tế của giáo dân”. Việc mục vụ luôn là hố sâu không đáy, và cái hố sâu không đáy này hầu như đã được tiên đoán bởi sự sút giảm con số các linh mục nơi các quốc gia thịnh vượng mà số giáo dân đang gia tăng. Chính tôi đã thực hiện một khảo cứu trên 1.172 linh mục trong 15 giáo phận của các vùng khác nhau ở Hoa Kỳ từ tháng 9-2003 tới tháng 5-2005, khảo cứu này cho thấy trên 42,9% các linh mục được hỏi đồng ý với câu nói này: “Tôi cảm thấy có quá nhiều công việc phải làm”.

Chấp nhận những giới hạn của chúng ta cũng là một loại khó khăn mà chúng ta nên lưu ý, bởi lẽ chúng ta không thể đáp ứng cho tất cả mọi thứ vì công việc mục vụ, vì nó là một cái hố không đáy mà. Chúng ta là những linh mục thường muốn người ta nghĩ về mình như là những người dễ mến và như thế cố tỏ ra vui vẻ để luôn trả lời sẵn sàng với mọi người, và thật khó khăn để có thể từ chối hay là không đáp lại những nhu cầu hợp lý của mọi người khi chúng ta không có thời gian. Nó thật là một điều khó để có thể trả lời không với người khác, mỗi ngày vị linh mục luôn phải đối mặt với sự chọn lựa để quyết định những nhu cầu nào ngài có thể đáp ứng và những nhu cầu nào ngài phải chối từ. Thẳng thắn mà nói, một số linh mục đã không có những quyết định đúng đắn và cũng có rất nhiều vị lại khuếch trương một cách quá độ. Đây là một vấn đề mà mỗi linh mục và mọi linh mục phải đối diện, vì thế các linh mục cần sự nâng đõ để xác định những giới hạn hợp lý của mình.

Tôi nhớ đến một linh mục ở Nam Mỹ đến thăm một xứ đạo ở Hoa Kỳ, ông ấy quá sốc khi thấy một linh mục ở Hoa Kỳ tham dự quá nhiều những dịp khác nhau như là đám cưới hay đám rửa tội, ông ta nhận xét: “Ở tỉnh lỵ của tôi, một linh mục phải chăm sóc tới 50.000 giáo dân, tôi không thể tham dự những dịp như thế này, tôi chỉ có thể tham dự những dịp trọng đại khi cả cộng đoàn đều có mặt trong các ngày đại lễ”. Có lẽ chúng ta cũng nên học hỏi từ các anh em linh mục của chúng ta ở các nước khác, chúng ta phải đặt lại vấn đề xem những biến cố nào chúng ta cần có mặt và những biến cố nào chúng ta không nên có.

Một việc khổ chế khác nữa mà một linh mục đang làm việc mục vụ phải đối mặt đó là sự cô đơn mang tính độc đáo của mình. Linh mục là một người sống giữa mọi người, cũng giống như họ chúng ta là những con người và là những Kitô hữu, vì thế, chúng ta cùng nhau chia sẻ điều gì đó là chung với nhau. Nhưng chúng ta cũng là các linh mục, với chức thánh chúng ta lại được tách riêng ra, vị linh mục là người hướng dẫn thiêng liêng của mọi người, ngài đồng thời là một người trong họ nhưng trong khi đó và một cách nào đó ngài lại không phải là họ. Việc mặc áo giáo sĩ là một dấu chỉ rõ ràng là chúng ta mang lấy trên mình cái ách khác biệt này, rất nhiều khi, là linh mục chúng ta phải chấp nhận sự cô đơn mang tính độc đáo của chúng ta.

Chúng ta là những linh mục, điều quan trọng là chúng ta nên có những bạn linh mục. Bởi lẽ khi chúng ta cùng chia sẻ với các bạn linh mục khác, và luôn luôn gắn bó với gia đình của chúng ta, chúng ta mới thật sự và trọn vẹn là chính mình, vì đó thật là một phúc lành khi có những phút giây mà chúng ta quên đi những gánh nặng và ở bên những người thân yêu của mình, và được những người thân yêu kêu mình bằng những cái tên cúng cơm mà không có chút gì là mưu mẹo hay khó xử. Tôi cảm thấy thật là một hồi chuông báo động khi biết rằng có một vài linh mục không thích các linh mục khác, và những linh mục này cũng không cảm thấy thích thú gì khi có dịp quy tụ với nhau, đây là điềm báo trước không mấy tốt lành cho những linh mục đó.

Một điều khổ chế khác nữa mà các linh mục phải đối diện đó chính là đời sống độc thân của họ. Đời sống độc thân của các linh mục mang một sắc thái đặc biệt khi các ngài sống giữa dân chúng. Một số người nêu lên ý kiến cho rằng độc thân chỉ phù hợp với đời sống thánh hiến, bởi vì những người sống trong đời sống thánh hiến được nâng đỡ một cách đặc biệt trong các cộng đoàn mình sống, trong khi đó một linh mục trong đời mục vụ sống trong nhà xứ không có được sự nâng đỡ này. Thêm nữa, ngài phải sống giữa những người không cùng cách sống với mình, không hiểu mình và lại không ủng hộ mình nữa. Điều này đặc biệt làm cho vị linh mục cảm thấy cô đơn và bị thách đố liên tục.

Tuy nhiên, sống giữa mọi người như thế càng làm rõ ràng thêm chứng từ của chúng ta cam kết với Thiên Chúa. Đặc biệt trong thời đại bị ảnh hưởng sâu sắc bởi nền văn hoá tôn thờ dục vọng, vật chất, và bản thân, chứng tá của đời sống hoàn toàn dấn thân như thế này lại càng cần thiết hơn nữa. Linh mục sống đời độc thân là chứng tá sống động cho sự hiện diện của Thiên Chúa ngay tại trần gian này và là nguồn ân sủng dồi dào cho cả cộng đoàn cũng như chính vị linh mục. Tuy nhiên, đây là một đời sống khó khăn.

Ở xã hội Phương Tây hiện đại người ta cho rằng, điều đúng đắn của cuộc sống phụ thuộc vào sự thoải mái và địa vị xã hội. Bởi đó, chẳng phải ngẫu nhiên gì cả mà đời sống dấn thân và từ bỏ chính mình như thế đều bị coi là không thực tế và chẳng hấp dẫn gì cho nhiều người. Sống trong xã hội đã nhiều năm bị ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ như thế, con người ngày nay bị mê hoặc và tin tưởng rằng sự thoải mái của cuộc sống họ được đem lại nhờ vào quảng cáo và thương mại. Thế rồi, khi đau khổ ập tới, sự đau khổ mà chẳng ai có thể tránh được, hay khi cuộc sống của họ không đạt tới mức như tiêu chuẩn vật chất và quảng cáo bày ra, lúc đó trong thâm tâm người ta cảm thấy bị tổn thương và la toáng lên rằng: “Lỗi tại ai? Tôi phải trách mắng ai đây? Hay tôi phải kiện người nào đây?”

Chúng ta thật đã quên đi lời đã dạy trong sách Sáng Thế rằng con người chúng ta đã bị chúc dữ và phải đổ mồ hôi sôi nước mắt để nuôi thân: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc thật nhiều lúc sinh con... Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn” (Ga 3,16.19). Buồn sầu và đau khổ chính là định mệnh của mọi người không trừ ai, kể cả những ai đang sống trong những quốc gia giàu có. Điều đó cũng đúng với đời sống linh mục. Rất nhiều lúc các linh mục gặp sự buồn phiền đau khổ, các ngài cảm thấy hoài nghi về ơn gọi của mình, và các ngài cũng nghi ngờ phải chăng mình đã không là những những linh mục tốt. Lúc đó các ngài tự hỏi rằng: “Phải chăng tôi đã làm điều gì sai trái?” Phải chăng sự đau khổ tôi đang phải chịu là dấu chỉ chắc chắn là tôi đã làm điều gì tội lỗi trước đó rồi? Không phải vậy. Đau khổ là phần tất yếu của mọi con người: dù là người sống trong cuộc sống gia đình, người độc thân, hay người dâng hiến. Mọi câu hỏi được đặt ra về ơn gọi của chúng ta đều có thể là lời mời gọi chúng ta đi sâu hơn nữa vào chính cuộc sống dâng hiến cũng như sự cam kết dấn thân của chúng ta với Chúa. Trên hết mọi sự, tất cả linh mục chúng ta phải tìm thấy niềm an ủi và sức mạnh nơi chính mẫu gương của Chúa Giêsu, người là tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa.

Xã hội chúng ta đã trở nên thân thuộc với sự sở hữu và với những khái niệm sai lạc, nó luôn đề cao chức vị và tôn thờ bản thân. Chính ở trong bối cảnh xã hội như thế, đời sống linh mục lại mang lấy một dấu chỉ của sự đối nghịch, ngài là người sống trong thế giới nhưng lại không thuộc về thế giới. Được thấm nhuần tinh thần và ân sủng của Tin Mừng, người linh mục sống giữa thế gian nhưng không bị những đam mê trần tục làm nhạt đi tính chất muối cho trần gian của mình (x. Mt 5,13). Nếu như một linh mục đã thực sự đam mê có được mọi thứ máy móc tối tân, ưa thích một cuộc sống xa hoa và thoải mái sang trọng, chúng ta cần phải dừng lại liên tục để quan sát xem chúng ta đang sống như thế nào, và nếu cần đôi khi chúng ta cũng phải nhờ tới vị linh hướng hay là chạy tới những chuyên gia để giúp chúng ta biện phân về cách sống của mình phải chăng chúng ta vẫn luôn là chứng nhân cho Tin Mừng.

Việc sống trong thế giới nhưng không thuộc về thế giới là một trong những thách thức rất lớn đối với một linh mục triều cũng như đối với bất cứ linh mục nào đang làm mục vụ giữa dân chúng. Chúng ta cũng phải khẳng định là Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động mãnh liệt trên thế giới biểu lộ qua những đức tính và nhiều điều tích cực của đời sống con người. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhận ra là còn rất nhiều những điều phản chứng nơi nhiều người và cả nơi các linh mục.

Vì phải đối mặt với quá nhiều thách đố và khó khăn, nên xuất hiện nguy cơ là các linh mục rơi vào tình trạng thoả hiệp với chính mình. Điều cần lưu ý ở đây là một khi chúng ta đã sống thoả hiệp với bản thân, chúng ta rất dễ sa vào những hành vi không còn phù hợp với đời sống Kitô hữu và đặc biệt là không còn phù hợp với đời sống linh mục nữa. Nhiều linh mục tôi quen biết đã cố biện minh cho những hành vi sai trái của mình với suy nghĩ là: “Tôi đáng được hưởng những điều này, vì tôi đã bỏ mọi sự để theo Chúa mà”. Hay là: “Tôi cần những thứ ấy để có thể tiếp tục những công việc mục vụ khó khăn của tôi”. Tuy nhiên, những suy nghĩ như trên chẳng giúp gì hơn cho cuộc sống của các ngài, trái lại nó lại càng gây thêm rắc rối. Những suy nghĩ và hành động như thế là dấu chỉ cho ta thấy muối chứng nhân của chúng ta phần nào đã bị nhạt và lúc này chúng ta đã thật sự cần phải có sự hoán cải chính mình.

Đời sống và sự chiến đấu hằng ngày của đời linh mục thật sự là căng thẳng và có giá trị đặc biệt, nó mang chiều kích “đặc thù tối hậu”. Mỗi người chúng ta đều quen biết một số người đang sống trong đời sống gia đình. Hôn nhân không phải là phương thuốc đặc trị cho mọi thách đố của đời sống độc thân linh mục của chúng ta đâu. Quan sát cẩn thận về đời sống hôn nhân, chúng ta cũng thấy rẳng đây thật sự cũng là một đời sống đầy cam go và thử thách. Cũng giống như đời linh mục, hôn nhân cũng ngập tràn niềm vui và phần thưởng, nhưng nó cũng mang theo nhiều nỗi đau buồn và sầu khổ. Từ bỏ đời sống độc thân linh mục và lập gia đình có thể cũng giải quyết được một số khó khăn, nhưng cùng lúc đó nó lại mang đến hàng loạt những khó khăn khác. Vì vậy, trước khi quyết định từ bỏ đời sống độc thân dâng hiến để lập gia đình, chúng ta nên kỹ lưỡng tham khảo nhiều người đang sống trong bậc gia đình. Bởi lẽ, “nhìn từ đằng xa, cỏ luôn xanh hơn nhiều”, chứ thực tế thì không hoàn toàn luôn quá thú vị như thế.

Đời sống con người luôn đầy thách đố, bất kể ơn gọi nào ta được kêu gọi để sống nó đều đòi hỏi nhiều hy sinh và kiên trì. Tuy nhiên, đời sống linh mục vẫn mang một nét khó khăn đặc biệt. Bởi lẽ chính Chúa Giêsu đã hứa với chúng ta điều đó. Ngài đã nói với chúng ta rằng nếu như chúng ta muốn thật sự trở nên môn đệ của Ngài thì: “Chén của ta anh em sẽ thật sự uống” (Mt 20,23). Điều này là hoàn toàn chính xác, chúng ta càng theo sát Ngài bao nhiêu chúng ta càng tham dự sâu xa hơn nữa vào sự đau khổ và cái chết của Ngài. Ngày nay không chỉ đơn giản như là một cái mốt nói đến linh mục vừa là tư tế vừa là của lễ, nhưng kiểu nói này thật sự giúp chúng ta cảm nghiệm linh mục ngày nay phải như thế nào...

Nếu như cha đã là một linh mục thâm niên rồi, cha có dịp để ngồi nhìn lại những thập niên đã qua trong đời linh mục của mình, cha ngồi nhớ lại về đời sống mục vụ, những lời nói, những bài giảng của mình trong suốt quãng thời gian dài ấy mà cha không tìm ra một lần nào có người đã không tán thành, có người đã phản đối, có người đã phê bình hay loại trừ cha thì dường như một cách nào đó cha có thể nói rằng đời sống mục vụ của cha đã không hoàn toàn rao giảng sứ điệp của Chúa Kitô. Vì chính Đức Kitô nói: “Bất cứ ai muốn theo Ta, người ấy phải vác thập giá của mình mà theo Ta” (Mt 16,24). Điều đó chính là lời mời gọi và cũng là lời hứa cho những người theo Chúa. Vì thế, thật đúng đắn để nhìn vào những đau khổ của đời linh mục trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời khủng hoảng như là việc tháp nhập sâu sa vào cuộc khổ nạn của Chúa. Có thể là đáng hay không đáng phải chịu, có thể là nên khiển trách hay không nên khiển trách các linh mục, đời sống linh mục của chúng ta vẫn là sự tham dự vào thánh giá của Chúa Kitô. Thánh giá này sẽ thanh luyện những yếu đuối và tội lỗi của chúng ta, và qua thánh giá này của các linh mục nó sẽ thật sự mang lại niềm hy vọng lớn lao cho dân chúng những con người đang phải chịu những đau khổ lớn lao bằng nhiều hình thức.

Đời sống linh mục là một đời sống khó khăn. Điều này chẳng có gì sai. Mỗi người chúng ta phải thật sự ghi ơn những linh mục đã đi trước chúng ta, mở ra con đường cho chúng ta bằng chính đức tin và sự hy sinh của họ, những hy sinh của chúng ta cũng thật là bảo chứng và không kém phần quan trọng cho những người khác. Đời sống linh mục là một đời sống đầy cam go, thách thức nhưng thật giá trị. Nó đòi hỏi phải được sống chân thực như thế cho những con người đang can đảm tìm kiếm và theo đuổi cùng ơn gọi này.

Với những anh em linh mục của tôi, những người đang vất vả trên đường thập giá, hãy can đảm lên. Sự hy sinh vất vả của cha chính là sự đồng hình đồng dạng của cha với đời sống của Chúa Kitô, và đó là điều thiết yếu cha đang sống đời linh mục với sự chân thực. Cha ơi, hãy mạnh mẽ tiến lên...

Minh Tuấn, SDB, chuyển ngữ từ “Priesthood is difficult”
của Lm. Stephen J. Rossetti