nut

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Nhân vị trong gia đình


QUAN NIỆM NHÂN VỊ TRONG TÌNH LIÊN ĐỚI

VỚI GIA ĐÌNH

       I.            DẪN NHẬP

Theo thông điệp Redemptoris Hominis của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có đoạn viết: “Con người là con đường của Giáo Hội, con người trong hoàn cảnh cụ thể của mình, và mỗi con người trên trần gian này,… mỗi người trong thực tại của mình về hữu thể và hành động, về tri thức cũng như về ý chí và về cả tâm hồn. Con người viết lên trên trang sử đời mình nhờ những mối liên hệ, gặp gỡ, hoàn cảnh, cơ cấu xã hội, nối kết mình với người khác và điều đó cho thấy con người ngay từ giây phút đầu tiên của cuộc sống trên mặt đất này, từ giây phút thụ thai và được sinh ra”[1]. Từ đó cho ta thấy mối liên hệ sâu xa của con người với gia đình, trong ý nghĩa ấy, gia đình nói lên căn tính của mình là “nơi” mà con người được sinh ra và lớn lên, để hòa nhập mình với cuộc sống và xã hội, nhận ra được mối tương quan với mọi người, tạo nên tình liên đới với nhau trong cùng một nhân vị. Chúng ta cũng lần lượt tìm hiểu về mối tương quan ấy cũng như về thực trạng gia đình trong xã hội hôm nay.

    II.            NỘI DUNG

1.      Nhân vị con người trong tương quan với Thiên Chúa

Điều gì là nền tảng cho phẩm giá của chúng ta, phẩm giá làm người của mỗi cá nhân? Với đôi mắt đức tin, đó chính là việc con người dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Theo sách Sáng Thế, việc tạo dựng này thiết lập nền tảng Thánh Kinh cho phẩm giá của mỗi con người và là nguồn gốc của các quyền và bổn phận của con người.

Khi vì yêu thương mà Thiên Chúa kêu gọi con người bước vào cuộc sống, Ngài cũng đồng thời mời gọi họ sống cho tình yêu. “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8) và nơi chính mình Ngài, Ngài đang sống Mầu Nhiệm hiệp thông yêu thương giữa các ngôi vị. Vì thế, hãy suy tư câu Kinh Thánh: “Thiên Chúa phán: Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Chúng Ta, giống như Chúng Ta” (St 1,26) . Trong tiếng Do Thái chữ Ađam (con người) là danh từ đặc biệt, cụ thể và chỉ tập thể. Vì thế ở đây chúng ta phải hiểu không phải chỉ tạo dựng con nguời đầu tiên, nhưng là loài người. Mỗi người và mọi người, mọi cá nhân đều được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh của Ngài.

Câu chuyện tiếp tục: “Thiên Chúa phán chúng ta hãy làm ra bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất. Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St1, 26-27). Cái gì là hình ảnh Thiên Chúa trong con người? Tất nhiên không giới hạn phẩm chất con người vào chức năng hay hành động của con người. Con người là hình ảnh Thiên Chúa trong bản tính của họ, trong cách hiện hữu của họ mà tạo dựng, được yêu thương và được cứu chuộc bởi Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô.

Giá trị của con người là do Thiên Chúa dựng nên và cứu chuộc. Phẩm giá cao cả của con người là ở ơn gọi không thể chuyển nhượng được của họ. Nó nảy sinh do một can thiệp đặc biệt của Thiên Chúa, Đấng là nguyên nhân đầu tiên và chính yếu của họ. Phẩm giá đó được biểu lộ qua việc chúng ta được tham dự vào quyền bá chủ tối cao của Thiên Chúa trên mặt đất này. Nó diễn tả khả năng của chúng ta về mối tương quan, nhận thức, về đối thoại và về tình yêu của Thiên Chúa. Nói cách khác, phẩm giá của chúng ta nảy sinh từ sự kiện Thiên Chúa luôn luôn yêu thương, đối thoại, và mời gọi chúng ta hiệp thông với Ngài qua các Bí tích, qua cuộc sống hằng ngày và làm cho chúng ta trở nên con cái yêu quí của Ngài.

Một trong các chiều kích để chúng ta khám phá ra nhân vị của con người đó là chiều kích gia đình. Gia đình là nơi mà Thiên Chúa đã đặc để một căn tính và qua đó con người được phát triển hình ảnh của mình trong tương quan nhân vị. 

2.      Chiều kích gia đìnhcủa nhân vị

Khía cạnh gia đình của nhân vị, tức sự kết nối giữa các nhân vị trong gia đình với nhau và với tất cả mọi sự trong gia đình, đó cũng là căn tính của hôn nhân Ki tô giáo. Tình yêu giữa vợ chồng được đề cập đến như là yếu tố nền tảng của hôn nhân và hôn nhân chính là cộng đoàn chủ chốt của Ki tô giáo. Các đôi vợ chồng nên thánh xuyên qua mối tương quan với nhau và với con cái[2]. Bên cạnh đó gia đình Công Giáo có sự hiệp thông đức tin, mang dấu vết và hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi. Gia đình Kitô giáo còn được mặc khải và thể hiện cách đặc biệt sự hiệp thông trong Hội Thánh, bởi đó mà gia đình Kitô giáo được gọi là Hội Thánh tại gia[3] .

2.1  Gia đình là tế bào của xã hội

Bởi vì “Đấng tạo hóa đã đặt gia đình làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người” nên gia đình trở thành “tế bào đầu tiên và sống động của xã hội”[4] . Cho nên gia đình là “một định chế thần linh làm nền tảng cho cuộc sống con người, là nguyên mẫu đầu tiên của mọi tổ chức xã hội”[5]. Đơn vị gia đình được sinh ra do sự hiệp thông giữa các ngôi vị thế nên phát triền trong tư cách là một cộng đoàn các ngôi vị, gia đình đúng là xã hội đầu tiên của con người[6].

Gia đình có những liên hệ chặt chẽ và sống động với xã hội vì nó làm nền tảng cho xã hội và không ngừng tiếp xúc cho xã hội bằng việc phục vụ sự sống, gia đình chính điều kiện cho xã hội và quốc gia tồn tại. Qua gia đình người ta học được những bài học đầu tiên về sự khôn ngoan thiết thực, cũng như là nơi học hỏi, đào luyện các nhân đức (x. Cn 1,8-9; Hc 3,1-16). Từ đó gia đình bảo đảm tốt nhất cho xã hội khỏi những tệ nạn xã hội. Vì từ trong gia đình, người ta học biết trách nhiệm đối với xã hội và tình liên đới với nhau, học biết các giá trị luân lý được dạy dỗ ngay từ những tháng đầu tiên của cuộc đời những gia sản thiêng liêng tôn giáo và di sản quốc gia được lưu truyền.

Vì thế gia đình phải sống sao để mọi thành phần biết quan tâm lo lắng cho người trẻ cũng như người già, những người đau yếu hay khuyết tật, và cả những người nghèo trong đại gia đình của mình, phải biết thờ Cha, kính Mẹ, quý trọng Ông Bà, có như thế đời sống gia đình mới thực sự là cuộc khai tâm trong đời sống xã hội. Vì gia đình có tầm quan trọng đối với sự sống và sự lành mạnh của xã hội, nên xã hội có trách nhiệm đặc biệt để nâng đỡ và củng cố gia đình. Xã hội có biện pháp thích đáng để giúp đỡ và bảo vệ gia đình, đảm bảo quyền tự do xây tổ ấm, tự do dưỡng dục con cái. Quyền tự do tuyên xưng và truyền bá đức tin. Bảo vệ bền vững các mối dây gia đình, bảo vệ quyền tư hữu, quyền cư trú, an ninh.

Qua đó, gia đình góp phần làm triển nở nhân cách củng cố đất nước ngày càng giàu mạnh. Tuy nhiên, nhìn vào thực trạng xã hội hôm nay, chúng ta tìm hiểu về đời sống hôn nhân ngày nay như thế nào? Liệu hôn nhân có đánh mất đi căn tính của mình không?.

2.2  Hôn nhân, gia đình trong thế giới ngày nay

Chúng ta nhận thấy rằng lợi ích của con người và của xã hội tùy thuộc vào điều kiện hạnh phúc của cộng đoàn lứa đôi. Ngày nay xã hội đang trên đà phát triển, về khoa học kĩ thuật, mạng lưới thông tin Internet phát triển, truyền thanh, còn con người thì chạy theo lối sống thực dụng, những tệ nạn xã hội tăng cao,… Tuy nhiên trong bậc sống gia đình, nhìn chung có những mặt tích cực và tiêu cực.

Trong một xã hội như thế, chúng ta cùng khai triển đời sống gia đình trong thế giới ngày nay. Trước hết về mặt tích cực được nêu rõ “những trợ lực khác nhau giúp con người ngày nay tiến tới trong việc cổ võ cộng đoàn yêu thương ấy cũng như trong tôn trọng đời sống”[7] . Trong những điều ấy, chúng ta cần phải lưu ý rằng đây không phải là một thực tại thật sự ở nhiều nơi, nhưng từ một quan điểm trong việc thẩm định tình yêu, sự sống, mà nhiều khi trong thực tế chúng ta đã bị xúc phạm, và có thể tinh vi hơn những thế hệ khác: chẳng hạn như thực tại đáng buồn của việc phá thai hoặc những vụ chung sống tự do ngày càng gia tăng. Từ đó cho chúng ta thấy mặt tiêu cực của đời sống hôn nhân, gia đình ngày càng tăng cao như: chế độ đa thê chống lại tính chất duy nhất và hiện đang lưu hành trong nhiều nước cho dù đang dần đà ý thức được chế độ đơn thê, nạn ly dị ngày càng gia tăng trong thời đại chúng ta. Bên cạnh đó còn xảy ra những “tệ nạn” trong hôn nhân như: tính ích kỷ khoái lạc chủ nghĩa (tìm những lạc thú ngoài hôn nhân), và sử dụng những phương thế phi pháp chống lại việc truyền sinh: thuốc ngừa thai, đặt vòng tránh thai, thuốc diệt tinh trùng, điều hòa sinh sản,… còn một yếu tố nữa đó là tính ích kỷ của cả hai người làm giảm đi giá trị của tình yêu hôn nhân gia đình và hại đến sự tôn trọng của vợ chồng, mà người ta thường nói “ông ăn chả, bà ăn nem”. Chúng ta còn chưa nói đến việc bạo lực gia đình, con cái bất hiếu với cha mẹ,... một đàng khác những thay đổi kinh tế và xã hội, chẳng hạn như: vấn đề nhà cửa, thi đua trong công việc,… còn vấn đề tăng dân số ở nhiều nước còn gây khó khăn và đôi lúc cũng vì luật pháp, ngăn cản vợ chồng sống một cách quảng đại mở đường cho sự sống[8].

Vì thế gia đình cần ý thức về những ánh sáng và bóng tối ngày nay phủ xuống trên gia đình, gia đình cần “cố gắng bảo toàn và cổ võ phẩm giá tự nhiên cũng như những giá trị thiêng liêng cao cả của đời sống hôn nhân”[9], đặc biệt là gia đình Kitô hữu.

3.      Quan niệm nhân vị trong tình liên đới với gia đình

Trong tương quan cá vị, mỗi người là một chủ thể độc lập trong một nhân vị xác định. Tuy nhiên, trên bình diện xã hội, con người tồn tại trong mối tương quan liên vị với nhau và với thế giới. Sự liên đới này được thể hiện độc đáo và rõ nét đặc biệt trong đời sống gia đình. Nói cách khác, qua đời sống gia đình, nhân vị con người được khắc họa một cách sống động và chân thật nhất.

Gia đình, trước tiên là một tổ hợp mang tính xã hội và mỗi thành viên là một hạt nhân liên kết để từ đó hình thành một cộng đồng nhỏ trong cộng đồng lớn là xã hội. Nền tảng của cấu trúc tổ hợp này không giống với các cơ cấu khoa học, kinh tế hay chính trị, nó không được xây dựng dựa trên nguyên lý hay vật chất, chất liệu xây dựng của nó là “tình yêu”. Khi mỗi nhân vị mang trong mình tình yêu thì sự liên kết trong tương quan gia đình sẽ bền chặt và ổn định. Theo học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo “Gia đình không chỉ là một đơn vị pháp lý, xã hội và kinh tế, mà còn là một cộng đồng yêu thương và liên đới, là môi trường duy nhất thích hợp để dạy dỗ và truyền đạt những giá trị văn hóa, đạo đức, xã hội, tâm linh và tôn giáo, một việc rất cần để phát triển và xây dựng hạnh phúc cho các thành viên trong gia đình và xã hội”[10]. Có thể nói gia đình là “thánh điện của sự sống”, trong đó, các mối tương quan liên vị giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh, chị - em,… được dựa trên một định luật duy nhất là tình yêu. Tất cả mọi thành viên trong gia đình, mỗi người theo ơn riêng của mình, đều có ân sủng và trách nhiệm để mỗi ngày xây dựng sự hiệp thông giữa các nhân vị, bằng cách biến gia đình thành một “trường học đào tạo cho nhân tính được hoàn hảo và phong phú hơn”, điều đó được thể hiện qua việc chăm sóc và trao ban tình yêu cho mọi người, chia sẻ và cảm thông với nhau.

Trong thực tế, một gia đình được liên kết trong tình yêu giữa từng nhân vị sẽ tạo nên một  cộng đồng của sự sống, làm lan tỏa sức mạnh và hiệp nhất trong môi trường xã hội. Mặt khác, mỗi cá nhân sống trong một gia đình tình yêu sẽ phát triển tích cực và đầy đủ về mọi phương diện từ tâm sinh lý đến thể lý và có lối sống lành mạnh và tích cực trong môi trường cộng đồng. Điều này phản ảnh cho xã hội ngày nay, Cha Mẹ luôn loan toan với công việc không quan tâm chăm sóc con cái dẫn đến xã hội có rất nhiều trẻ bị “tự kỷ”, tệ nạn xã hội phát triển số thanh thiếu niên vướn vào các căn bệnh “thế kỷ”, nghiện game oline làm bỏ bê việc học rất nhiều,… Do đó, cha mẹ cần quan tâm gia dục con cái, làm phát triển căn tính gia đình trong công cuộc “nghìn năm trồng người”. Vì thế, sự bền vững của từng hạt nhân gia đình sẽ làm cho cuộc sống trong xã hội có chất lượng hơn và sự ổn định của xã hội sẽ là môi trường tốt để phát triển nhân cách con người.

Nhìn chung, trong mối tương quan nhân vị và gia đình, yếu tố cần thiết và quan trọng đó là tình yêu. Tình yêu thật sự là tình yêu trao ban, hy sinh và tha thứ. Do đó việc giáo dục nhân vị trong môi trường gia đình ngay từ những bước đầu sẽ là nền tảng để tạo nên những nhân vị thực sự trưởng thành trong tương lai.

 III.            KẾT LUẬN

Tóm lại, mỗi người là một nhân vị trong chương trình tình yêu của Thiên Chúa qua đó con người được sống và thể hiện tình yêu ấy nơi gia đình, nhà trường, xã hội,… để lan tỏa tình yêu ấy và cũng để liên đới với nhau trong cương vị làm người, làm con Chúa.

 

 



[1] Thông điệp Redemptoris Hominis, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II AAS 14
[2] x. Công đồng Vanticano II, Hiến chế tín lý Lumen Gentium số 11; Công đồng Vanticano II, Hiến chế Mục Vụ Gaudium et Spes số 48-51.
[3] Thông điệp Familiaris Consortio, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, số 21
[4] Công đồng Vanticano II, Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem số11
[5] Hội đồng Giám Mục Việt Nam, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Tóm lược Học Thuyết Xã Hội, AAS 213 (2004).
[6] Gioan Phaolô II, Thư gửi các gia đình Gratissimam Sane 7;AAS 86 (1994), 875; x. Giáo Lý Hội Công Giáo, 2006.
[7] Công đồng Vanticano II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes, số 47/1
[8] Công đồng Vanticano II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes, số 47/2
[9] Công đồng Vanticano II, Hiến Chế Mục Vụ Gaudium et Spes, số 47/3
[10] Hội đồng Giám Mục Việt Nam, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Tóm lược Học Thuyết Xã Hội, AAS 511 (2004).

Sự siêu nhiên hóa của con người



CON NGƯỜI ĐƯỢC SIÊU NHIÊN HÓA NGAY TỪ KHI ĐƯỢC THIÊN CHÚA
       TẠO DỰNG


Chúng ta nhìn lại thân phận của con người khi mới thoát ra từ hư vô như thế nào? Sách Sáng Thế tường thuật hai lần tạo dựng con người và vũ trụ. Qua hai bản văn ấy (St1,26-31; 2,4-25) chúng ta nhận ra được con người trong tương giao với Thiên Chúa. Đấng sáng tạo con người và trong tương quan đối với các vật Chúa dựng nên. Từ đó, chúng ta nhận ra một điều là con người được siêu nhiên hóa ngay khi được Thiên Chúa tạo dựng. Điều đó, chúng ta nhận thấy trước hết, biểu lộ:

1.    Nơi cử chỉ của Thiên Chúa sáng tạo

Mạc Khải Thánh Kinh cho ta biết, khi tạo dựng con người Thiên Chúa không phán một Lời như khi dựng các loài thụ tạo khác như: cây cối, thú vật,… mà Thiên Chúa khi dựng nên con người, Ngài trịnh trọng phán: “chúng ta hãy làm ra con người…” (St1,26). Chúng ta thấy ngay từ đầu, trước khi Thiên Chúa tạo nên không có gì hết ngoài một mình Thiên Chúa, thì không thể nói là “chúng ta hãy bàn bạc” như Thánh Augutino nói: “khi dựng nên con Chúa không cần hỏi ý kiến con” vì có ai ngoài một mình Thiên Chúa đâu mà bàn bạc. Từ đó cho chúng ta một định tính rằng: “ có sự bàn bạc nội tại trong Ba Ngôi Thiên Chúa”. Như vậy, “chúng ta làm” ở đây có thể hiểu Ba Ngôi Thiên Chúa; Cha, Con và Thánh Thần cùng bàn bạc với nhau mà sự bàn bạc bao giờ cũng nói lên một vấn đề quan trọng. Nhìn vào xã hội hôm nay, khi làm một việc gì đó có liên hệ đến người khác, thì bao giờ chúng ta cũng phải bàn bạc như: Giám đốc công ty lên một dự án mới, Hội dòng bầu Tổng Phụ Trách,… vậy từ cử chỉ của Thiên Chúa, nói lên giá trị và địa vị của con người, về tình yêu đặc biệt giữa Thiên Chúa và con người.

Không chỉ bàn bạc mà thôi, khi làm gì chúng ta cũng phải có đồ mẫu, dĩ nhiên trong tất cả mọi sự Thiên Chúa tạo nên đều có ý tưởng từ đời đời. Nhìn vào bản văn sách Sáng Thế (St1,26-31; 2,4-25), khi Thiên Chúa tạo dựng nên mọi loài thì Thiên Chúa phú bẩm cho loài ấy một bản tính riêng biệt như: rắn bò bằng bụng, bò ăn cỏ, cá sống dưới nước,… tiến trình của Thiên Chúa không thay đổi cho dù ngày nay khoa học kĩ thuật tiến bộ như việc lai tạo các giống cây cùng họ, phương pháp cừu Dolly, sinh sản vô tính,… Thiên Chúa tạo dựng rõ ràng và tất cả điều hoàn hảo ngay từ đầu. Trái lại trong việc tác thành con người, đã có cuộc bàn định trước và theo Kinh Thánh mô tả, một bản đồ đã được phác họa: “Ta hãy dựng nên con người giống hình ảnh Ta” (St1,26).

Ta cũng thấy cử chỉ đó trong việc tạo dựng nên người nữ. Khi tạo dựng nên người nữ Thiên Chúa không là một người thợ gốm như khi tạo dựng người nam và cũng không phán một lời như khi tạo dựng muôn vật mà Thiên Chúa lấy xương sườn của người nam để tạo dựng nên người nữ. Ở đây chúng ta không buộc phải tin như thế, nhưng mà hình ảnh Kinh Thánh nói lên rằng người nữ bởi xương sườn người nam (St2,18-25) từ đó nói lên rằng cả nam và nữ đều do Thiên Chúa tạo dựng  và do đó chỉ có người nữ là thích hợp với người nam và bổ túc cho người nam một cách sít sao nhất, và cũng để nói lên đặc tính của hôn nhân cũng như phản bác các chính sách cho phép hôn nhân đồng giới.

Tóm lại, qua cử chỉ Thiên Chúa sáng tạo nói lên sự siêu nhiên hóa ngay từ đầu trong công cuộc Thiên Chúa tạo dựng nên con người.

2.    Nơi chính con người

Chúng ta còn thấy sự siêu nhiên hóa con người còn ở việc con người tự nhiên là gồm hồn và xác.

Vậy khi Thiên Chúa tạo dựng nên con người về phương diện khác thì sao? Khi tạo dựng nên trời đất thì Chúa phán một lời liền có như vậy, mà chẳng cần bàn bạc chẳng cần đồ mẫu gì hết, nhưng khi tạo dựng nên con người thì có sự bàn bạc và Thiên Chúa tạo dựng con người theo chính khuôn mẫu là hình ảnh của ngài. Không chỉ thế mà ngay cả đến cái kém cõi nhất là thân xác con người, Ngài cũng chăm chút. Ngài đã không lấy bất cứ một vật liệu nào khác, và Mạc khải cho chúng ta biết Ngài lấy tinh chất đất để nói lên thân xác con người được siêu nhiên hóa ngay từ đầu và Mạc Khải sau này cho chúng ta biết thân xác con người ngày sau sẽ sống lại và chính Con Thiên Chúa đã Giáng Sinh mặc lấy thân xác yếu hèn của con người mà chính Ngài đã chết đi và thân xác của Ngài đã sống lại. Giáo Hội bảo đảm cho chúng ta, cho những ai tin vào Ngài sẽ được Phục Sinh vinh hiển, việc Thiên Chúa tạo dựng con người từ tinh chất đất nói lên thân xác con người được siêu nhiên hóa ngay từ đầu, tuy thân xác con người được tạo dựng từ tinh chất đất.

Thân xác con người được nhào nặn từ đất để nói lên Thiên Chúa cũng giống như các ông thợ gốm hành nghề và cách thức tiếp theo mà Kinh Thánh dùng hình ảnh: hơi thở vào mũi, qua đó cho chúng ta thấy sự thận trọng của Thiên Chúa như thế nào, dù là “thân xác” con người kém cỏi.

“Hơi thở” mà chúng ta nhận thấy chính là sự sống của Thiên Chúa, có nghĩa là sự sống của con người chính là sự sống của Thiên Chúa. Qua đó chúng ta nhận thấy được ngay từ đầu con người đã được siêu nhiên hóa.

3.    Nơi những đặc ân trừ nhiên

Những đặc ân mà con người sơ thủy nhận được cũng biểu lộ tính siêu nhiên hóa:

Với đặc ân thân xác con người không phải lao động vất vả, tất cả mọi sự Thiên Chúa đã an bài và quan trọng hơn hết là con người không phải chết. Tuy nhiên có sự phối hợp giữa hồn và xác thì có ngày phải chết nhưng nhờ đặc ân này thì không phải chết đời đời.

Không chỉ có đặc ân thân xác mà con người còn có đặc ân linh hồn. Nơi hai tài năng thượng đẳng của hồn là: trí khôn và ý chí. Với trí khôn minh mẫn, ý chí thì có khả năng làm chủ. Qua trí khôn và ý chí tức là con người có tự do. Thiên Chúa đặt một thử thách nhỏ nơi con người là làm chủ chính hạnh phúc của họ. Thánh Kinh dùng hình ảnh Thiên Chúa cấm con người không được ăn trái cấm. Tuy nhiên con người đã không vượt được thử thách đó, qua việc không vâng phục Thiên Chúa, con người đã đánh mất đi đặt ân thân xác.

Với đặc ân cho cả hồn lẫn xác, con người được sống thân mật với Thiên Chúa trong lạc viên, tri thức hoàn cảnh, ơn bất tử và hướng thượng để suy phục Thiên Chúa. Từ đó hồn và xác đưa con người vào vườn siêu nhiên để con người có một trí tuệ minh mẫn và đặt tên cho mọi loài mọi vật, đặt tên thiên phú ngay từ đầu.

Trong cộng đoàn nhỏ bé ban đầu, đã có một sự bình an đến nỗi hai người sống hòa hợp, thân ái và không có gì phải che giấu giữa nhau. Giữa họ có một sự hòa điệu hoàn toàn “người nam và người nữ đều trần truồng và họ không cảm thấy xấu hổ” (St2, 25), chứng tỏ một sự tin tưởng và kính trọng hơn cả sự lo lắng tính dục vô trật tự lôi cuốn. Qua đó thấy ông bà đã sống trong tình trạng vộ tội và hoàn toàn hạnh phúc (x. R. Kock trang 84- Giáo trình Ân Sủng trang 61). Nhìn vào đời sống hôn nhân ngày nay chúng ta thấy việc lạm dụng tính dục đang lan tràn khắp nơi, đó cũng là một thách đố cho Giáo Hội chúng ta, chúng ta cần phải cầu nguyện thật nhiều cho vấn đề này.

Sự bình an sâu xa giữa Thiên Chúa và con người còn lan tỏa trên toàn thế giới loài vật. Việc con người đầu tiên thân thiết, đùa giỡn với thú vật và cây cỏ, cũng như việc ông đặt tên cho chúng, từ đó cho thấy được bản tính của chúng được phú bẩm ngay từ đầu.

Vườn địa đàng là nơi con người được sống hạnh phúc, được gặp gỡ Thiên Chúa, được định cư và làm chủ vạn vật. Ở trong vườn địa đàng con người tạo được mối dây mật thiết với Thiên Chúa và mối dây này vượt hẳn mối dây ràng buộc thụ tạo với Tạo Hóa.

Tóm lại qua cử chỉ của Thiên Chúa sáng tạo, qua chính nơi con người cũng như nơi những đặc ân trừ nhiên ngay từ khởi đầu con người được siêu nhiên hóa, để con người được sống, được giao hòa với vạn vật cũng như được kín múc chính tình yêu và ân sủng của Ngài. 

 

 

Công đồng Trindentino


CÔNG ĐỒNG TRENTÔ (1545 – 1563)

 

I.          DẪN NHẬP

Công đồng Trento đã khuôn định bộ mặt của Giáo Hội  cho nhiều thế kỷ: không phải bằng một chủ trương máy móc nào đó, nhưng  bằng những khoản luật và những sắc lệnh qui định những luật lệ cho sinh hoạt thực tế và đời sống thường ngày của Giáo Hội. Trong những thập niên trước, giáo triều Roma bị giao động bởi một triều sóng mâu thuẫn về những ý tưởng canh tân và về tòa giáo hoàng. Thế mà ngay ở phiên hội khoáng đại, công đồng biểu quyết toàn diện chương trình làm việc của giáo triều. Hơn thế nữa, với sự kiên trì hiếm có, giáo hoàng coi như bổn phận đầu tiên phải làm, là buộc tuân giữ những quyết định của công đồng ngay trong nội bộ giáo triều và phải đem áp dụng trong toàn thế giới. Chính vì thế mà trong suốt nửa thế kỷ tiếp theo, giáo triều trở nên, vừa là đối tượng và vừa là chủ xướng việc cải cách. Sự chân tình dấn thân của giáo triều đã phục hồi lại cho ngôi giáo hoàng những ảnh hưởng đã dần dần mất đi từ cuối thời trung cổ. công đồng Trentô đã đưa vào Giáo hội những đường hướng đứng vững gần bốn thế kỷ, trải qua biết bao khủng hoảng và xung đột. Thế nên, công đồng được coi là đỉnh cao của phong trào cải Giáo hội.

II.               Bối cảnh Giáo hội trước Công đồng Trento.

Cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, Giáo hội đang phải trải qua một sự suy thoái trầm trọng: nhiều cuộc cải cách Giáo hội đã diễn ra với các hệ phái Tin Lành, với những nhà cải cách tại các giáo phận, các dòng tu….

Nhưng những ai có tâm huyết với Giáo hội đều hướng tầm mắt về Tòa Thánh mà đại diện là Đức Giáo hoàng, như là tác nhân cao nhất đối với công cuộc cải cách Giáo hội. Mọi người đều mong đợi một cuộc cải cách toàn diện trong Giáo hội.

Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng, vào đầu thế kỷ XVI này, với Đức Giulio II ( 1503-1513) là vị Giáo hoàng tham quyền chức, quá bận tâm về chính trị. Đức Leo X ( 1513-1521) là người quá ham mê nghệ thuật, xao lãng việc bổn phận, thiếu cương quyết nên đã tạo thời cơ thuận lợi cho việc phát triển của giáo thuyết Tin Lành. Đến thời Đức Adriano ( 1522-1523), là một người nhiệt tâm và thao thức việc canh tân Giáo hội, ngài chủ trương tận diệt những suy đồi trong đời sống Giáo hội, kêu gọi hàng giáo phẩm và giáo sĩ xa tránh đời sống xa hoa, không kiêm nhiệm nhiều Tổng Giám Mục để hưởng bổng lộc. Nhưng ngài không thành công vì bị chống đối, không có người cộng tác và chỉ trị vì trên ngôi Giáo hoàng trong vòng 20 tháng.

Đức Clemente VII ( 1523-1534) theo chủ trương canh tân Giáo hội. Ngài cho mời hai gương mặt nổi bật trong việc canh tân Giáo hội lúc bấy giờ là Đức Hồng Y Sadolet và Đức Giám Mục Giberti đến Roma cộng tác với ngài. Ngài thành lập ủy ban nghiên cứu việc cải cách và cho điều tra những quốc gia và những vấn đề liên quan đến công cuộc cải cách. Tuy nhiên, những đề xuất của ủy ban này không được Đức Clemente VII cho thi hành. Lý do là vì ngài thiếu cương trực và quá bận tâm đến chính trị. Vì thấy ảnh hưởng của Tây Ban Nha quá lớn mạnh. Ngài bắt tay với Francois I của Pháp chống lại Carolo V. Carolo đã đem quân trả thù bằng cách xâm chiếm Roma. Ngày 5/5/1527, quân của tướng Bombon chiếm Roma và đã diễn ra một cuộc tàn sát dã man trong bảy ngày liền, gây nên một cuộc đổ máu khủng khiếp. Nhiều thánh đường, nhiều đền đài bị phá hủy…. Đàng khác, ngài cũng quá bận tâm đến việc lo củng cố địa vị và tạo thêm thế lực cho dòng tộc mình đang có tranh chấp với một dòng tộc khác.

Tại Đức, giáo thuyết của Luther bành trướng mạnh mẽ, các lãnh chúa tại Đức đã lợi dụng Tin lành để thiết lập một liên minh chính trị ngày càng vững mạnh. Tình trạng của Giáo hội lại càng bi đát hơn nữa khi cuộc cải cách của Luther lan tràn khắp Châu Âu.

Giáo hội nhìn toàn cảnh đang rơi vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Tuy nhiên, từ bên trong, đã xuất hiện nhiều mầm sống mới với việc canh tân GH từ các giáo phận và dòng tu. Nhiều dòng tu mới đã xuất hiện trong thời kỳ này.

Tất cả mọi người đều yêu cầu có Công đồng chung, cả Luther cũng đã hai lần lên tiếng, lần thứ nhất vào năm 1518 tại hội nghị ở Ausburg, lần thứ hai khi ông nhận tông sắc Exsurge Domine hăm dọa tuyệt thông vào ngày 15.06.1520. Các tác phẩm thời đại, các cuộc hội nghị của đế quốc Đức, các dự án của những người muốn canh tân đều tha thiết triệu tập Công đồng, như là phương thuốc cuối cùng để tạo lập sự thống nhất và canh tân trong Giáo hội.

Tất cả những điều đó như mảnh đất được dọn sẳn, chuẩn bị cho công cuộc cải cách toàn thể trong Giáo hội với Công đồng Trentô.

III.            Thời kỳ chuẩn bị Công đồng.

Môi trường để chuẩn bị Công đồng tuy rất thuận tiện nhưng để thành hiện thực và đem lại kết quả tốt đẹp cho Giáo hội, Công đồng cũng đã gặp rất nhiều khó khăn và cản trở.

1. Những khó khăn:

* Từ phía giáo quyền.

Khó khăn và trở ngại đầu tiên xuất phát từ phía giáo quyền. Đức Giáo hoàng Adrianô VI có lẽ sẽ triệu tập Công đồng nếu ngài thấy Công đồng là phương tiện hữu hiệu, nhưng ngài mất đi quá sớm. Đức Giáo hoàng Clêmentê VII, ngay từ ban đầu đã chống đối Công đồng. Thêm vào nhiều tiếng nói khác cũng chống lại Roma. Người ta sợ rằng tư tưởng đại Công đồng có thể gây xáo trộn trong Giáo hội. Trong khi đó, ở Nürnberg, Luther đã kêu gọi các lãnh chúa triệu tập một “ Công đồng chung tự do, Kitô giáo ở nước Đức”. Nếu nhìn qua lời kêu gọi này, thì thực sự không có gì phải lo ngại, nhưng trong thực tế đã làm cho Roma lại càng bảo thủ hơn nữa. Dưới chữ “ tự do” phải hiểu là “ tự do khỏi Giáo hoàng”, chỉ vì theo Luther thì Đức Giáo hoàng chỉ là biểu trưng cho một đảng phái, chính vì thế không thể để Đức Giáo hoàng triệu tập và hướng dẫn Công đồng được. Chính Hoàng đế và các lãnh chúa phải đảm bảo công việc đó. “ Kitô giáo” có nghĩa là Công đồng tương lai này không những bao gồm các Giám mục mà thôi mà phải có cả giáo dân tham dự và bỏ phiếu. Thêm nữa, tất cả vấn đề trong Công đồng phải được đánh giá qua duy chỉ Thánh Kinh mà thôi. Và Công đồng phải được triệu tập trên đế quốc Đức.

* Vấn đề chính trị.

Vấn đề chính trị cũng ngăn trở không kém. Các Hoàng đế Tây Ban Nha – Pháp – Đức và Thệ Phản, đều tạo những khó khăn cho Công đồng. Vua nước Pháp không muốn có Công đồng, chỉ vì thù hận Hoàng đế Đức do bởi những cuộc chiến tranh giữa Đức Pháp. Cả những lãnh chúa Thệ Phản ở Đức cũng không đồng ý có Công đồng chỉ vì họ nhờ qua liên minh Schmalkalde đã có một thực lực mạnh.

2. Những công việc chuẩn bị.

Đức Giáo hoàng Phaolo III ( 1534-1549) lên ngôi lúc 67 tuổi, nhưng là một người cương quyết. Vừa lên ngôi, ngài đã quyết định triệu tập Công đồng chung. Nhưng ngài nhận thấy rằng, trước hết cần phải cải cách chính nội bộ của Tòa thánh. Vì thế, để chuẩn bị Công đồng, Đức Phaolô III cho tiến hành việc canh tân các Thánh bộ và làm hữu hiệu hóa guồng máy cũng như những nhân viên thừa hành của Tòa thánh. Ngài cho thiết lập 2 Thánh bộ: Bộ đặc trách hàng giáo sĩ ở Roma và Bộ thanh tra hành chánh trong Nước Tòa thánh. Nhiều Ủy ban cải cách được thành lập để lo việc nghiên cứu các giải pháp. Ngài cũng lo việc cải tổ các dòng tu. Cuối cùng ngài cho công bố bản Mục lục sách cấm (Index libroum prohibitorum), nhằm chống lại những sách báo nguy hại đến đức tin người tín hữu.

Từ năm 1535, Đức Phaolô III đã mời về Roma những Hồng y nổi danh như Sadolet, Caraffa, Pole, Contarini… và những nhà ngoại giao tài năng như Schomberg, Caracciolo….

Vào mùa xuân 1536 khi Hoàng đế Carolo V thăm viếng Roma, Đức Giáo hoàng và Hoàng đế thỏa thuận sẽ triệu tập một Công đồng chung.

Ban đầu Công đồng dự định sẽ nhóm họp tại Mantua vào ngày 23.5.1537, nhưng gặp thất bại. Lý do trước hết là vì chiến tranh xảy ra giữa Francois I và Carolo V. Đàng khác, Vua Francois I vừa mới bắt tay với các lãnh chúa Thệ Phản nên lãnh đạm với Công đồng. Nhưng Carolo cũng bất mãn vì Mantua là một địa điểm ở ngoài đế quốc Đức, như thế là ông không gây được nhiều ảnh hưởng. Ông đã đe dọa công tước ở Mantua, và công tước này phải lấy cớ là nếu để Công đồng họp tại lãnh thổ của ông thì ông phải đài thọ ít nhất là 5000 – 6000 lính canh, như thế không thể thực hiện được và tuyên bố không thể bảo đảm an ninh cho các Nghị phụ.

Vì sự từ chối trên, ngày 08.10.1537 Đức Giáo hoàng ra lệnh dời Công đồng đến Vicencia. Mặc dù Đức Giáo hoàng đặt 3 Hồng y Campeggio, Simonetta và Aleander đứng hướng dẫn Công đồng và đã đến Vicencia, nhưng chỉ có vài Giám mục người Đức đến và bỏ đi, những người Thệ Phản từ khi lập liên minh Schmalkaldie đã từ chối đến dự Công đồng ở Mantua, do đó ngày khai mạc phải dời lại một ngày khác.

Vua Ferdinando của Nước Áo đề nghị với Đức Giáo hoàng địa điểm Trentô, một tỉnh nhỏ ở vùng Tyril, dân chúng người Ý nhưng thuộc đế quốc Đức. Carolo V đồng ý và ngày 22.5.1542 Đức Giáo hoàng ban tông huấn lần đầu tiên triệu tập Công đồng ở Trentô. Hai tuần sau đó, chiến tranh lại bùng nổ giữa Carolo V và Francois I. Francois cấm các Giám mục đi dự Công đồng vì Trentô là vùng lãnh thổ của kẻ thù. Carolo V vì chiến tranh cần đến sự trợ lực của các lãnh chúa Thệ Phản nên phải bắt tay với họ và lờ đi các vấn đề tôn giáo.

Ngày 17.9.1544 Đức – Pháp ký hòa ước ở Crépy. Đức Giáo hoàng liền phái sứ thần đến gặp cả hai bên, rồi ấn định ngày khai mạc Công đồng vào ngày 18.05.1545. Nhưng khi Sứ thần tòa thánh đến chủ tọa Công đồng thì thấy số Giám mục ít quá, lại viết thư xin hoãn đến tháng 12. Suốt mùa hè năm đó, Đức Giáo hoàng sai nhiều sứ giả đi thúc giục các Giám mục và yêu cầu chính quyền không làm khó dễ Công đồng. Carolo V sau bao lần thử nghiệm chính sách hòa giải không thành công nên cũng bằng lòng giải pháp Công đồng. Đức Giáo hoàng cương quyết thực hiện việc nhóm họp của Công đồng.

Ngày 13.12.1545 Công đồng được khai mạc. Hiện diện tại Công đồng có 4 Hồng Y, 4 Tổng Giám mục, 21 Giám mục, 5 Đan viện phụ và 5 Thần học gia và Luật gia. Tuy con số quá ít, nhưng Công đồng vẫn bắt đầu và phải đợi 18 năm sau Công đồng mới được kết thúc. Công đồng được kéo dài và chia làm 3 thời kỳ từ năm 1545 đến 1563 với hai lần bị ngắt quãng.

- Giai đoạn I ( 1545 – 1549) dưới thời Đức Giáo hoàng Phaolo III ( 1543 – 1549).

- Giai đoạn II ( 1551 – 1552) dưới thời Đức Giáo hoàng Giuliô III ( 1550 – 1555).

- Giai đoạn III ( 1562 – 1563) dưới thời Đức Giáo hoàng Piô IV ( 1559 – 1563).

IV.             Công đồng Trentô ( 13.12.1545 đến 04.12.1563)

1.      Giai đoạn I ( 1545 – 1549).

Ngày 13.12.1545 với sự hiện diện của 31 vị Giám mục. Công đồng đã được khai mạc cách trọng thể tại Trentô. Ba vị Sứ thần tòa thánh hướng dẫn Công đồng là Hồng y De Monte, Pole Cervini.

Ba phiên họp đầu tiên chỉ vì số tham dự quá ít nên không quyết định được điều gì quan trọng, chỉ có ngày 22.01.1546 Công đồng đã quyết định là hai phân vụ chính yếu của Công đồng là xác định tín lý Công giáo và canh tân Giáo hội, hai vấn đề này phải được bàn thảo song song với nhau ở nghị hội.

Phiên họp thứ 4 ngày 08.04.1546 Công đồng đã quyết định một điểm căn bản cho cả Công đồng, phải công nhận Thánh Truyền có giá trị như Thánh Kinh, đồng thời Công đồng cũng xác định kinh điển. Trong phiên họp này cũng quyết định sử  dụng Thánh Kinh Vulgata tức bản dịch La ngữ của Hiêrônimô để minh xét mọi tín điều.

Phiên họp thứ 5 ngày 17.06.1546 sắc lệnh về Nguyên Tội được biểu quyết và chấp nhận. Giáo điều Nguyên Tội của Công giáo một mặt chống lại phái Pelaganer cho rằng nguyên tội đã làm bại hoại hoàn toàn bản tính của con người, đồng thời cũng chống lại lối giải thích của Thệ Phản cho rằng sau Thánh Tẩy, nguyên tội vẫn còn.

Phiên họp thứ 6 gay cấn hơn cả, người ta phải chuẩn bị tất cả là 6 tháng để học hỏi về vấn đề Công chính hóa. Tất cả có 61 buổi họp chung và 44 buổi họp riêng. Ngày 07.01 Công đồng chấp thuận. Và ngày 13.01.1547 công bố sắc lệnh và giáo thuyết Công chính hóa gồm 16 chương trình bày và 33 qui đoản kết án những lạc thuyết. Tại điểm quyết định là: Sự cộng tác của ý chí con người vào hồng ân Thiên Chúa nâng đỡ cho cả tiến trình công chính hóa. Trong sự kiện trọng đại này Công đồng nhấn mạnh đến việc có thể lập được công nghiệm ( meritum) của con người, điểm thứ hai là việc thánh hóa nội tại của con người nhờ hồng ân thánh hóa ( chống lại thuyết Simul iustus simul peccator chỉ được tuyên bố công chính hóa bên ngoài, còn bên trong vẫn còn là tội nhân). Trong phiên họp này người ta cũng bàn thảo và chấp nhận sắc lệnh về trách nhiệm về sự hiện diện tại địa sở của mình. Nếu ai vắng mặt trên địa sở của mình mà không có lý do chính đáng trong vòng sáu tháng sẽ bị phạt.

Trong phiên họp thứ 7 bắt đầu từ ngày 03.03.1547 đưa ra sắc lệnh cấm kiêm nhiệm nhiều địa sở, chỉ vì đây là một lý do làm cho các người lãnh đạo Giáo hội chểnh mảng trong vấn đề trách nhiệm hiện diện tại địa sở: Công đồng cũng đặt nền tảng cho những đòi hỏi về nhu cầu mục vụ những khoảng luật về chức vụ và về Bí tích thánh chức. Cũng trong phiên họp này, Công đồng đưa ra một sắc lệnh về Bí tích đại cương và hợp nhất về Bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức. Căn bản của sắc lệnh là giáo thuyết, các Bí tích hiện thực hồng ân qua việc hoàn tất dấu chỉ bên ngoài (Ex opere operato), chứ không duy chỉ có niềm tin vào lời hứa của Thiên Chúa.

Con số nghị phụ ngày càng gia tăng, nay đã nên được 64 Giám mục và 7 Đan viện phụ. Công việc đang được tiến hành tốt đẹp thì một tai nạn xảy ra.

Ngày 06.03.1547 sau một cơn đau ngắn, Giám mục thành Capaccio thuộc vương quốc Neapel qua đời, tiếp theo đó một số Nghị phụ cũng qua đời. Bác sĩ của Công đồng là Fracastora tuyên bố là bệnh dịch. Mười hai Nghị phụ lại vội rời bỏ Trentô, chính vì thế vào phiên họp thứ 8 vào ngày 11.03.1547 Công đồng quyết định dời về Bologne. Một thiểu số 14 Giám mục phản đối.

Vào tháng 02 năm 1548 Công đồng nhóm họp ở Bologne đại đa số là Nghị phụ ở Ý. Vào ngày 21.04 là phiên họp thứ hai, gồm có 36 Nghị phụ. Suốt mùa hè và mùa thu, Công đồng đã làm nhiều việc về giáo thuyết Bí tích, Thánh Thể, Xá Giải, Xức Dầu, Hôn Phối, Thánh Chức, người ta đã thu thập tất cả tài liệu cho việc canh tân  mục vụ Bí tích. Nhưng Công đồng không công bố một tài liệu nào của hai phiên họp trên. Tại sao vậy? Mặc dù Công đồng xác quyết là Đức Giáo hoàng có quyền rời Công đồng đến một địa điểm khác. Nhưng khi Đức Giáo hoàng thực hiện quyền của Ngài, dời Công đồng về Bologne thì Hoàng đế lại phản đối lấy lý do là cơn bệnh đã bắt đầu thối lui nên buộc các Giám mục dưới quyền của ông ( Đức – Tây Ban Nha) ở lại Trentô, nhưng trong thực tế ông cho việc dời Công đồng là một sự xúc phạm đến danh dự của ông ta, nhất là sự hiện diện của ông tại Công đồng, thử đến đây là việc không khôn ngoan mấy đối với Thệ Phản và làm một thiếu sót của Giáo hội. Carolo V đã làm khó dễ, nên vào phiên họp thứ 3 ở Bologne, Đức Giáo hoàng buộc phải tuyên bố tạm ngưng vào tháng 9.1549.

Vào ngày 10.11.1549 Đức Giáo hoàng Phaolo III qua đời. Ngài đau buồn vì người cháu là Perluigi Farnèse ngài đặt làm bá tước ở Parma và Plaisaince bị giết. Chính Carolo V đã ủng hộ và nhúng tay vào việc này.

2.                  Giai đoạn II ( 01.05.1551 – 28.04.1552)

            Ngày 08.02.1550 Đức Giáo hoàng Giulio III ( 1550 – 1555) lên ngôi. Ngài chính là Hồng y Del Monte, chủ tịch Công đồng ở giai đoạn 1, là đồng chí với Đức Giáo hoàng Phaolo III, ngài rất hăng hái trong công cuộc canh tân Giáo hội.

            Vừa lên ngôi, ngài lo điều định để tái lập Công đồng. Carolo V từ trước vẫn muốn theo đuổi chính sách hòa giải về giáo thuyết. Ngày 15.05.1548 ông ký một tạm ước Ausburg với người Thệ Phản, ông cho phép các Linh mục đã kết hôn vẫn sống với vợ mình đồng thời cho phép giáo dân chịu lễ dưới hai hình thức bánh và rượu. Tạm ước đưa ra người Công giáo bất bình vì sự nhượng bộ, người Thệ Phản bất mãn. Tình thế bắt buộc nên Carolo V cũng đồng ý cho tái lập Công đồng nhưng không sốt sắng ủng hộ. Trong khi đó Henri III ( 1547 – 15559) lên thay thế Francois I làm vua nước Pháp không ủng hộ Công đồng, cho rằng nước Pháp không có lạc thuyết nên không cần Công đồng chung, có thể lập Công đồng quốc gia để canh tân Giáo hội trong nước. Ngày 01.05.1552 ông lại ký kết với Thệ Phản Đức một hiệp ước Chămbord nhờ đó đã đem lại cho nước Pháp những phần đất Metz, Toul, Verdun và Cambrai còn ông phải tuyên hứa với đồng minh để giúp họ chống lại Hoàng đế Carolo V.

            Tình thế khó khăn như vậy, Giáo chủ vẫn lên tiếng vào ngày 01.12.1550 sự tái khai mạc Công đồng lại vào ngày 01.05.1551 tại Trentô.

Ngày 01.05.1551 khai mạc lần thứ 2 cho Công đồng Trentô. Đây cũng là phiên họp thứ 12 của Công đồng. Vì số Nghị phụ quá ít pahir ngưng lại. Bắt đầu tháng 09 thì các Giám mục của Đức mới lần lượt tái tham dự, nhất là các Tổng Giám mục của các giáo tỉnh Mainz, Trier sau đó là Kưln. Trong tháng kế tiếp thì số Giám mục của Đức lên đến 13 vị. Các vị Giám mục của Pháp theo Henri II không đến dự. Nhờ vào tài liệu đã soạn thảo ở Bologna, vào phiên họp thứ 13 vào ngày 11.10.1551 Công đồng xác định giáo thuyết về Thánh Thể: Sự hiện diện thực sự của Chúa Giêsu  qua lời truyền phép trong việc biến đổi bản chất. Về vấn đề ban phát Bí tích Thánh Thể dưới hai dạng thức ( Laien Kelch) Công đồng vẫn không bàn đến được thông qua một cách nhanh chóng.

            Trong phiên họp thứ 14 vào ngày 25.11.1551 Công đồng xác định trong 9 chương về giáo thuyết và 15 qui khoản về Bí tích Xá giải, Công đồng nhấn mạnh đến chỗ cần thiết của việc xưng tội tư, đặc tính thẩm phán của lời xá giải và việc đền tội. Sắc lệnh về Bí tích Bệnh nhân, với Luther thì đây chỉ là nghi thức cầu nguyện nâng đỡ bệnh nhân thôi chứ không phải là Bí tích, thì nay Công đồng nhấc mạnh đến đặc tính của Bí tích này.

            Trong phiên họp thứ 15 là phiên họp duy nhất có sự tham dự của Thệ Phản. Karl đã nắm được các lực lượng của Thệ Phản và bắt họ phải đến Công đồng . Đầu tiên là nhóm ở Brandenburg, nhóm này vào ngày 11.10 thì chấp nhận những nghị quyết của Công đồng. Nhóm Württemberg. Người đại diện cho Strassburg, sử gia Johann Slaydan, thì giữ vững lập trường của mình. Tất cả anh em Thệ Phản hợp tác với Sứ giả của Quận công Moritz Ươn Sachsen vừa đến vào ngày 09.01.1552. Trong phiên họp khoáng đại của Công đồng vào ngày 24.01, họ đòi buộc giải phóng các Nghị phụ khỏi lời nguyền tuyên thệ với Đức Giáo hoàng, buộc ngài phải tùng phục Công đồng theo lời xác quyết của Công đồng Constant, hủy bỏ tất cả những gì đã tuyên bố về tín điều mà Công đồng đã làm việc. Công đồng không thể nào chấp nhận những đề nghị của anh em Thệ Phản được. Thế là Công đồng vào ngõ bế tắc. trong lúc đó thì những tin tức bất ổn từ Đức đưa tới bắt buộc các Giám mục ở Đức phải vội vã trở về quê hương. Quận công Moritz von Sachsen, từ mùa hạ 1551 đã ký kết với Pháp một hiệp ước, đã chuẩn bị chiến tranh chống Hoàng đế. Vào cuối tháng 03 Moritz khai chiến và từ Ausburg tiến công về phía Nam. Hoàng đế bị bất ngờ tiến công phải vội vã rời bỏ InnsBruck.

            Trento bị đe dọa. Vào phiên họp thứ 16 vào ngày 2.04.1552 Đức Giáo hoàng ra lệnh tạm ngưng CÔng đồng trong một thời gian ngắn là 2 năm. Sai đó vì nản chí Đức Giáo hoàng Giulio III không tái lập nữa và ngài qua đời vào ngày 23.03.1555.

Đức Giáo hoàng Marcello II.

Hồng y Marcello Cervini phó chủ tịch Công đồng Trento lên nối ngôi Giáo hoàng Giulio III vào ngày 09.04.1555, sau 10 ngày lên ngôi ngài lâm bệnh nặng và qua đời ngày 01.05.1555.

Đức Giáo hoàng  Phaolo IV ( 23.05.1555 – 18.08.1559).

            Đức Giáo hoàng Phaolo IV, ngài là một Giáo chủ nghiêm khắc chưa từng thấy trong lịch sử. Vừa lên ngôi Giáo hoàng, ngài muốn vạch một hướng đi canh tân mới và chính Đức Giáo hoàng phải đảm nhận trách vụ đó. Có lẽ vì ngài thấy việc triệu tập Công đồng gặp nhiều khó khăn và tiến triển khá chậm. Ngài triệt để tiêu trừ lạc thuyết và các tệ nạn, không vị nể một ai, dù những người có quyền hành. Để đẩy mạnh công tác, ngài đặt Hồng y Sứ thần ở bốn nước để chuyển đạt mệnh lệnh của ngài cho các Giám mục và bắt thi hành. Vấn đề cải cách Giáo hội, ngài thu lượm được một phần kết quả, nhưng trong vấn đề chính trị ngài đã thất bại chua cay khi tìm cách chống lại ảnh hưởng của Tây Ban Nha. Nhưng lần đổ vỡ nhất cho công cuộc của ngài chính là các cháu của ngài. Theo đường lối gia đình chính trị, ngài trao chức vụ quốc vụ khanh cho cháu của ngài là  Caro Carafa. Vị Hồng y này lại bí mật làm nhiều việc mại thánh cùng với 2 người cháu khác là Palliano và Montebello. Công việc đến tai Đức Giáo hoàng, ngài cho điều tra, ngài hỏi các Hồng y và cách chức 3 người cháu đó. Ngài buồn rầu, ngã bệnh và qua đời ngày 18 08 1559.

Đức Giáo hoàng Pio IV ( 15.12.1559 – 09.12.1568).

            Sau 3 tháng chọn lựa, các Hồng y đồng ý chọn bầu một Hồng Y Gioan Angelo de Medici. Vừa lên ngôi đã tạo gia đình trị, đặt các cháu và họ hàng vào các cơ quan tòa thánh. Trên 20 cháu chắt của ngài ở tại Roma một trong số đó, một người cháu vừa lên 21 tuổi được ngài đặt làm Hồng y quốc vụ khanh. Đó là Carolo Borromeo một người quá trẻ, nhưng khôn ngoan tài trí và thánh thiện.

Rút kinh nghiệm ở đấng tiền nhiệm, Đức Giáo hoàng Pio IV lo tái lập Công đồng. Hoàn cảnh Công đồng xem ra thuận tiện. Carolo V từ trước vẫn làm cản trở Công đồng từ băn 1557 nhường ngôi cho Philippe II rút lui vào một tu viện ở Tây Ban Nha và chết năm 1558. Còn Henri III phản đối Công đồng cũng qua đời năm 1559.

            Đức Giáo hoàng Pio VI thất thế cho sứ thần đến gặp các vua mới. Tự sắc triệu tập Công đồng ngày 29.11.1560 kêu gọi họp Công đồng vào Phục Sinh 1561, nhưng thất bại, vì các vua mới tuy không chống lại nhưng tỏ ra lãnh đạm hoặc không ủng hộ.

            Không nản chí Đức Giáo hoàng cố gắng thuyết phục. Nhờ tài ngoại giao của Hồng Y Morone, Ferdinand, Hoàng đế Đức và Philippe II vua Tây Ban Nha bằng lòng ủng hộ vì hai ông hy vọng có thể dàn xếp xong xuôi vấn đề liên lạc với Tòa thánh. Còn Catherine de Medicis nhiếp chính thay cho con là Carolo XI vua nước Pháp vì thấy Thệ Phản Pháp đã trở thành một lực lượng đe dọa và hy vọng chấm dứt được chiến tranh tôn giáo, nên cũng bằng lòng để các Giám mục Pháp đến họp.

3.                  Giai đoạn 3 (18/1/1562 - 4/12/1563)

 

PHIÊN HỌP 17:

Công đồng Trento tái nhóm ngày 18.01.1562 và có thêm 7 phiên họp khoáng đại. Tham dự phiên họp thứ 17, tức là phiên họp khai mạc cho giai đoạn 3 gồm 113 vụ có chức Giám mục và như thế có vẻ một Công đồng chung hơn. Bốn Hồng y đặc sứ là Gonzaga, Seripando, Hosius và Simonetta ngồi bàn chủ tọa.

 

Ngay ở phiên họp đầu này khi bàn về trách nhiệm hiện diện tại nhiệm sở của các Giám mục thì Công đồng gặp phải cơn khủng hoảng. Những vị Tây Ban Nha và một phần Ý cho trách nhiệm này phải xem như là luật trực tiếp của Thiên Chúa (de inre divimo) như thế mới có thể tránh đi những luật trừ được, trong khi đó những người thuộc giáo triều cho rằng định nghĩa trên là một sự tấn công vào tối thượng quyền của giáo hữu. Nhưng khi đầu phiếu phe giáo triều chỉ được một số ít dù vậy Đức Gio hồng cũng đứng về phe họ và cấm không cho bàn đến vấn đề này nữa. Công đồng dậm chân tại chỗ gần hai tháng trời.

 

Vào tháng 06 mây mù tan bớt, chống đối cũng không còn nhiều, các nghị phụ lại bắt đầu làm việc trở lại. Các ngài lấy lại những công tác tín lý còn bỏ dở ở năm 1551 học hỏi trở lại

 

PHIÊN HỌP 21: Thánh thể

Vào ngày 16.7.1562 đưa ra sắc lệnh về việc Rước lễ (nói lên sự hiện diện của Chúa Kitô ở dưới một trong hai dạng thức bánh rượu, mọi phần nhỏ mọn của bánh hay rượu đều có trót Mình và Máu Thánh).

 

PHIÊN HỌP 22: Tế Phẩm và Tế Vật

Vào ngày 17.09.1562 đưa ra sắc lệnh về Thánh Lễ. Sắc lệnh nhấn mạnh ở những điểm như sau:

a.      Thánh lễ là tưởng niệm và hiện tại hóa lại cái chết hiến tế Thập tự của Chúa kitô.

b.      Chỉ vì cùng một tế phẩm và cùng một Thượng Tế là chính Chúa Kitô.

c.      Chỉ có khác cách thức dâng hiến (không đẫm máu).

Còn về việc cho Giáo dân rước máu thánh hay không thì công đồng giành quyền đó cho Giáo chủ đoán xét.

 

Về việc có cho giáo dân rước lấy Máu thánh hay không thì Công đồng giành quyền đó cho Đức Gio hồng đoán xét.

 

Vừa khi Công đồng lấy lại vấn đề trách nhiệm cư trú tại địa sở của Giám mục, Công đồng lại gặp cơn khủng hoảng và cuộc khủng hoảng này kéo dài đúng 10 tháng. Vấn đề nằm ở chỗ phải giải quyết vấn đề cơ bản là việc liên lạc giữa tối thượng quyền của Đức Gio hồng

 

Đối với quyền của các Giám mục, xác định rõ hơn chính là câu hỏi: làm thế nào hòa hợp giữa việc thiết lập chức Giám mục do chính Đấng Kitô với tối thượng quyền của Đức Gio hồng? Trong những tuần mà cơn khủng hoảng đi đến cao độ, thì cái chết len vào Công đồng. Trong một khoảng thời gian ngắn từ 02-17.3 vì quá lo âu và nặng gánh công tác lần lượt hai Hồng y đặc Sứ Chủ tịch và Phó Chủ tịch của Công đồng là Gonzaga và Scripando lần lượt qua đời. Đức Giáo Hoàng đã đặt Morone và Navagero lên thay thế. Hồng y Morone là người hướng dẫn Công đồng ra khỏi cơn khủng hoảng.

 

PHIÊN HỌP 23: Bí Tích Truyền Chức Thánh

Ngày 14.7.1563 Công đồng mới bắt đầu phiên hop thứ 23 sau 10 tháng đứt khoảng. Công Đồng hạn hẹp công tác vào giữa thuyết Thê Phản về Bí tích Truyền Chức và một sắc lệnh về việc thiết lập các chủng viện để đào tạo hàng giáo sĩ cũng được công bố trong phiên họp này.

 

Vào tháng 07. 1563 Hồng Y đặc sứ Morone cũng đưa ra một bản kiến nghị canh tân gồm 42 điểm, cả mùa hè năm đó Công đồng đã bàn thảo và sau hai phiên họp sau mới hoàn thành.

 

Bản kiến nghị qui định việc cắt đặt và phận vụ của hồng y và Giám mục:

 

*     Tổ chức công đồng địa phận (mỗi năm)

*     Công đồng miền (mỗi ba năm)

*     Phận vụ kinh lý địa phận của Giám Mục

*     Canh tân công tạo chính tòa

*     Nhiệm sở họ đạo và giảng thuyết ở họ đạo.

*     Ngoài ra còn việc canh tân các dòng tu chỉ hạn hẹp ở vài việc xác định những luật lệ như: thu nhập, tập viện, lủy cấm,…

 

PHIÊN HỌP 24: Bí Tích Hôn Nhân

Phiên họp thứ 24 vào ngày 11.11 Công đồng có đưa ra một sắc lệnh về đặc tính bí tích của hôn nhân, sắc lệnh này được sắc lệnh canh tân Tamerri bổ túc : Các hôn phối thầm kín có nghĩa là những hôn phối ký kết mà không có nhân chứng thì không những là không được phép mà còn phải ngăn cấm, từ nay chỉ có những hôn phối ký kết trước mặt vị Linh mục có thẩm quyền và ít nhất là hai nhân chứng và sau đó phải ghi vào sổ bộ, thì hôn phối đó mới thành sự.

 

PHIÊN HOP 25: Luyện Ngục, ân xá, tin kính, các thánh, di hài các Thánh và ảnh tượng

Phiên họp 25 cũng là phiên họp cuối cùng, vào ngày 3 và 4 tháng 12.1563 Công đồng cũng công bố những sắc lệnh về luyện ngục, ân xá, tôn kính các thánh… “việc kêu cầu chư thánh là tốt và giúp ích cho ơn cứu độ”, các di tích của các Ngài được mọi tín hữu tín kính cũng như những hình ảnh của Chúa Kitô và Chư thánh” không phải vì chúng tôi tin rằng trong đó có quyền lực thần linh trú ẩn”, nhưng là chỉ để trình bày những Nguyện Ảnh thôi. Về sắc lệnh ảnh tượng thì chỉ lập lại những căn bản định nghĩa ở trong Công đồng chung thứ 7.

 

Vì có một số Giám mục Tây Ban Nha chống đối kéo theo một số Giám mục khác, Hồng y Morone cũng muốn kết thúc gấp Công đồng một lẽ vì tài chánh chi phí cho Công đồng lại quá cao. Dự định là trung tuần thánh 12, nhưng ngay ngày 01.12 một lá thư của Đức Hồng y quốc vụ khanh Carolo Boromêo báo tin Đức Gio hồng đau nặng. Chính vì thế phiên họp cuối cùng, phiên họp thứ 25 chỉ họp có hai ngày, chỉ vì người ta chỉ duyệt lại và xác nhận các sắc lệnh thôi. 199 Giám mục, 7 Đan viện phụ và 7 Bề trên dòng ký tên vào bản Công đồng. Kết thúc Công đồng, Hồng y Guise, đứng đầu nhóm đối kháng lại đứng lên nói lời cuối cùng. Ngài hoan hô đương kim Gio hồng cũng như các đấng tiền nhiệm đã đem lại Công đồng, chúc tụng Hoàng đế Carolo V cũng như Ferminard, chúc tụng các Nghị phụ đã tham dự Công đồng. Hồng y đặc sứ Morone kết thúc với lời “Hãy đi bình an”.

 

Ngày 4 tháng 12 năm 1563 bế mạc Công đồng Tridentino.

 

Ngày 26.01.1564 Đức Giáo Hoàng Pio IV ban tông chiếu Benedictus Deus châu phê các sắc lệnh Công đồng và chính thức công bố.

V.                Những hệ quả của công đồng Tridentino

A.           Về Tín Lý

- Vấn đề Mạc khải, nguồn gốc của niềm tin.

 

v Thệ phản

Chỉ nhận có Thánh Kinh và giáo dân được tự do xác tín không cần đến quyền giáo huấn của Giáo hội.

 

v  Công đồng trả lời:

Niềm tin của người Công giáo đặt nền tảng trên Thánh Kinh và Thánh truyền. Giáo hội có sứ mệnh bảo vệ tính cách tinh tuyền của hai nguồn đó, Giáo dân không được tự ý giải thích Thánh, đặt cho Thánh Kinh một ý nghĩa khác với những điều Giáo hội đã ấn định về đức tin và luân lý.

 

B.            Vấn đề công chính hóa,

v Thệ phản chủ trương:

a/ Nguyên tội làm cho con người hoàn toàn bại hoại, không thể lập được một công nghiệp nào cả.

b/ Thiên Chúa đã tiền định cho một số người được cứu rỗi – Solagratia.

c/ Con đường cứu rỗi là tin vào lời hứa.

d/ Simul instus, simul peccator – Sự công chính hóa chỉ là bên ngoài, nội tại con người vẫn là tội nhân.

 

v Công đồng trả lời:

a/ Tội nguyên tổ không làm bại hoại con người hoàn toàn, con người còn tự do làm lành lánh dữ, nơi cách khác con người có thể tạo được công nghiệp.

b/ Công việc cứu rỗi đòi hỏi sự cộng tác của con người với Thiên Chúa, mặc dù nguyên tội có làm cho con người bị thương, nhưng vẫn còn ý thức để tham gia vào sự cứu rỗi.

c/ Việc chống chính là cả một cuộc biến đổi tận căn nội tại, chứ không phải chỉ phủ che bên ngoài. Nguyên nhân chính là hồng ân Thiên Chúa nhưng đòi buộc có sự cộng tác của con người.

 

C.           Vấn đề bí tích

Ø   Công đồng đưa ra giáo thuyết bí tích, người công giáo phải tin tất cả có 7 phép bí tích do Chúa Giê su thiết lập.

Ø   Công đồng xác tín bí tích là dấu hiệu chứa đựng ơn thánh và ban ơn thánh cho người lãnh nhận khi không gặp cản trở.

Ø   Bí tích thành sự khi người chủ sự hoàn thành tất cả những nghi thức do Giáo hội chỉ định (ex opera operato).

Ø   Công đồng đưa ra giáo thuyết về mỗi phép bí tích, nhưng đặc biệt là bí tích thánh thể: Chúa hiện diện thực sự trong phép thánh thể

-   Hiện diện bản thể chứ không phải năng lực như Calvin chủ trương.

-   Ngài hiện diện toàn thể cả trong bánh cũng như rượu trong mỗi phần nhỏ của hai phụ thể. cách thể hiện này chống lại chủ trương của Luther.

-   Công đồng cũng dạy: Thánh Thể không những là bí tích mà thôi nhưng còn là tế  hiến tế dâng lên Cha, điều mà tất cả thệ phản điều phủ nhận.

 

v Về kỷ luật

Ngoài giáo thuyết chân chính giáo hội cần phải cải tổ, tẩy trừ những tệ nạn và canh tân cho đúng theo Lời chúa.

 

F      Với các Giám Mục

N Công đồng đưa ra nhiều khoản chú trọng đến luật cơ sở để giảm bớt vắng mặt trong giáo phận của mình.

N Các Giám Mục phải chú ý đến nhu cầu của Giáo Dân. Hằng năm phải thăm viếng các xứ đạo trong địa phận của mình.

N  Công đồng yêu cầu các giám mục không giây mình vào chính trị, vào tiền bạc, lợi lộc và tránh lụy thuộc vào những tranh chấp gia tộc.

F      Với các Linh Mục

N Công đồng đòi hỏi các linh mục phải giữ Đức Khiết Tịnh, lo luyện tập các nhân đức cho xứng hợp với nhiệm vụ của mình.

N Công đồng đòi buộc các linh mục phải giữ luật độc thân.

N Các Ngài phải giữ luật cư sở và lo giảng dạy giáo dân, để có thể chu toàn sứ mệnh đó, Công Đồng kêu gọi các Giám Mục thành lập các chủng viện trong địa phận mình để đào tạo Linh Mục tương lai. Và đây có thể nói là công lao lớn của Công Đồng.

F      Với Giáo Dân

N Luật buộc mọi tín hữu dự lễ ngày chúa nhật và các luật khác như cấm đấu gươm, ấn định nhiều luật về Hôn Phối.

N Còn về đòi hỏi của đời sống Công Giáo, Công Đồng muốn dành việc đó cho cuốn sách Giáo Lý của Công Đồng.

N Cuối cùng, công việc quan trọng và khó khăn hơn cả là ngăn cấm các ông hoàng không đước nhúng tay vào các vấn đề của Hội Thánh.

 

Ngày 26.1.1564 Đức Giáo Hoàng Pius IV ban tông huấn “Benedictus Deus” châu phê các sắc lệnh Công Đồng và chính thức công bố trên toàn Hội Thánh.