nut

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

LECTIO DIVINA - ĐỒNG HÀNH


Lectio Divina


Là một phương pháp cầu nguyện bắt nguồn từ các đan viện xưa, hiện tại Lectio Divina được phổ biến trong các cộng đoàn tín hữu. Trên nguyên tắc, thì trong phương pháp cầu nguyện này chúng ta diễn tiến theo ba bước, nhưng trong thực tế, khó mà phân biệt ba giai đoạn. Song, phân chia như thế giúp ích hơn cho người muốn làm quen với phương pháp đọc Kinh Thánh này:

1.- Ðọc bản văn (Lectio). Trước tiên hỏi: Bản văn này nói gì? Chú ý đọc từng chủ từ và động từ để tìm hiểu những lời được viết dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Tuy đôi khi đoạn Kinh Thánh quá quen thuộc, đọc đi đọc lại để đi sâu vào ý nghĩa thật của nó. Ðọc chầm chậm từng câu. Sau mỗi câu, buông sách xuống, đọc thầm câu đó trong lòng và để câu đó vang trong lòng vài lần. Nguyện xin Thần Khí mở mắt thấy được ý nghĩa sâu xa của bản văn.

Bước đầu 'đọc' (lectio) mở đường cho bước sắp tới 'suy niệm' (meditatio), chứ chưa phải là mục tiêu cuối cùng. Bước đầu tiên này được kéo dài nhiều hay ít tuỳ nhu cầu: ngắn quá thì suy niệm sẽ chẳng có kết quả, lâu quá thì không còn thì giờ suy và chiêm niệm.

2.- Suy niệm (Meditatio) về những giá trị được bản văn nêu lên. Nghiền ngẫm bản văn để tìm ý nghĩa của nó cho cuộc sống cá nhân và cộng đoàn. Bản văn mang đến những giá trị nào về cách suy nghĩ và hành động của người kitô hữu? Bản văn này nói với tôi điều gì? Suy niệm không chỉ với đầu óc mà còn bằng trái tim, bởi vì những giá trị đó có thể đánh động lòng mình. Ý nghĩa sâu xa của những lời này là gì? Qua bản văn này, Ðức Giê-su mời tôi sống như thế nào? Lời Chúa có thể biến đổi cuộc sống.

Không nên kéo dài phần suy niệm nhiều, kẻo cảm thấy mãn nguyện vì đã hiểu ý nghĩa sâu và rộng của bản văn. Thấu hiểu chưa chắc là áp dụng cho cuộc sống. Khi cầu nguyện, Chúa mở mắt và soi sáng, nhưng Ngài muốn dẫn chúng ta xa hơn, là 'thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa' (Mk 6,8).

3.- Chiêm niệm (Contemplatio). Sau khi đọc chậm đoạn Thánh Kinh, nhắm mắt để cho hoạt cảnh diễn lại trong tâm trí mình. Mục đích là nhập vào cảnh, nghĩa là làm sao để thấy mình trong cảnh để nhìn, nghe, cảm và phản ứng. Một khi đã nhập vào cảnh thì hãy ở lại trong cảnh cho đến hết giờ. Chúng ta cũng có thể nhập vào vai, nghĩa là làm sao để thấy mình là một nhân vật thực sự trong câu chuyện hoặc tự tìm cho mình một vai mới. Trong khi nhập vai, thì người cầu nguyện cũng cảm và phản ứng như nhân vật trong đoạn Thánh Kinh. Có thể sẽ tự nhiên nói với Chúa điều gì mình cảm thấy lúc đó. Có thể ở lại bên cạnh Chúa để lắng nghe và hưởng những giây phút hạnh phúc bên cạnh Ngài.

Lối cầu nguyện này dẫn đến thờ phượng Chúa trong 'thần khí và sự thật' (Ga 4,24). Ðối tượng của chiêm niệm luôn luôn là Ðức Giê-su, là Ngôi Lời Chúa Cha. Chúng ta không chỉ trao đổi ý kiến với Chúa mà còn nghiền ngẫm Ðức Giê-su đang đối xử với Chúa Cha và với tha nhân. Ðây là lúc thuận tiện để chúng ta mở lòng kết hiệp với Thần Khí Chúa và lãnh nhận các ân huệ Ngài ban cho: một sức dịu dàng lôi cuốn, lòng mến yêu và dấn thân theo Ðức Giê-su, nước mắt hối hận xin lỗi, tâm tình ngợi khen lòng nhân từ Chúa, lời khẩn cầu cho chính mình, cho nhân loại.

Ðây là cuộc gặp gỡ giữa Ðấng Tạo Hoá và thụ tạo, giữa hai Cha con, giữa lòng tự do của Chúa và lòng tự do của chúng ta. Ðây là lúc 'thụ động' nhận lãnh, để nhờ Thần Khí thờ phượng, ngợi khen và làm vinh hiển Chúa Cha. Ðây là lúc nhường trái tim cho Thần Khí. Ðây là một cuộc 'ăn năn trở về' tận gốc, bởi vì chính Thần Khí soi sáng, tác động và yêu mến Cha trong chúng ta.


LECTIO DIVINA - HOÀNG QUÝ

CẦU NGUYỆN VỚI LỜI ĐỌC THÁNH (LECTIO DIVINA)

Hoàng Quý

Một lối cầu nguyện thật cổ kính được mọi thời đại tận dụng để cầu nguyện, đó là kỹ thuật lectio divina. Đây là lối cầu nguyện theo Kinh Thánh thật chậm rãi, thật chiêm niệm, để làm thế nào Kinh Thánh hay Lời của Thiên Chúa trở thành phương tiện nâng con người lên tận hiệp với Thiên Chúa. Nói một cách khác, lectio divina giúp chúng ta gặp gỡ được Thiên Chúa qua lời mặc khải của Ngài và khi đó chúng ta lắng nghe Chúa nói và Ngài bộc lộ chính Ngài cho chúng ta, rồi cuốn hút chúng ta đi vào thông hiệp với Ngài trong niềm tin yêu. Phương thức cầu nguyện cổ truyền này vẫn được duy trì trong truyền thống Giáo Hội nơi các dòng khổ tu, các đan viện.

Để giúp Giáo Hội đi vào chiều sâu của việc cầu nguyện thật cần thiết cho thời đại hôm nay, năm 1971 ĐGH Phaolô VI kêu gọi các thầy dòng khổ tu tìm cách giản dị hoá phương pháp để có thể áp dụng lối cầu nguyện chiêm niệm này cho mọi tín hữu. Và từ đây phương pháp cầu nguyện lectio divina không còn là sở hữu của các thầy dòng khổ tu nữa, nhưng là của toàn thể Giáo Hội. Bất cứ ai cũng đều có thể xử dụng chiêu thức cầu nguyện hữu hiệu này.

Lectio (đọc / lắng nghe)

Nghệ thuật của lectio divina bắt đầu bằng việc trau dồi khả năng biết trầm lặng lắng nghe, nghe bằng «cái tai của con tim» để nhận ra được tiếng nói bình lặng, êm dịu, nhỏ bé của tiếng Chúa. Vậy khi đọc Lời Thánh (lectio divina), chúng ta hãy nhớ lại Lời Chúa phán bảo tiên tri Êlia: «Người nói với ông: 'Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua.' Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu.».... (1V 19:11-12). Tiếng nói của Chúa qua Lời Thánh là tiếng nói hiu hiu, thì thầm và đụng chạm trái tim chúng ta. Tiếng nói Chúa như đang thể hiện sức sống của Ngài hiện diện tràn ngập tâm hồn chúng ta.

Nghe ở đây không phải là một thoáng nghe, nhưng là một lắng nghe tiếng Chúa nói một cách rất êm dịu. Và muốn lắng nghe được tiếng nói êm dịu của Ngài, chúng ta phải học sống thanh lặng, phải học yêu thanh lặng. Nếu chúng ta cứ nói hoài hoặc khoả đầy mình bằng những tiếng nói ồn ào, uế tạp, chúng sẽ chẳng thể nghe được những tiếng êm dịu của Ngài. Như vậy việc thực hành lectio divina trước tiên đòi hỏi chúng ta phải trầm lắng lòng mình xuống để có thể lắng nghe được Lời Ngài. Đây là bước đầu tiên của lectio divina. Lectio = đọc.

Lối đọc của lectio divina khác hẳn với lối đọc của thời đại hiện này khi đọc sách báo, người ta đọc như cái máy, như chạy bộ. Lối đọc của lectio là lối lắng nghe một cách tôn kính, lắng nghe với một tinh thần trầm lặng và kính cẩn. Chúng ta phải lắng nghe tiếng nói tĩnh mịch, nhỏ nhẹ của tiếng Chúa như đích thân Ngài đang nói với chúng ta thật thân tình. Như vậy trong lectio divina chúng ta cần đọc một cách chậm rãi, chú tâm rồi êm đềm lắng nghe xem lời nào, câu nói nào của Lời Chúa đánh động chúng ta hôm nay.

Meditatio (suy niệm)

Khi nào chúng ta nhận thấy lời nào, câu nào trong Lời Chúa vừa đọc đang nói với chúng ta một cách thân tình, rung động, chúng ta hãy dừng lại ở đó và «nhai đi nhai lại» cho tới khi nhuần nhuyễn. Đây là hình ảnh của con trâu, con bò nhai cỏ một cách bình lặng. Hơn bất cứ hình ảnh khác, chúng ta hãy bắt chước gương Đức Maria trong đêm Giáng Sinh. Sau khi nghe các người chăn chiên tường thuật những chuyện lạ về Chúa Giêsu, Mẹ ghi nhớ tất cả những hình ảnh ấy và «suy đi nghĩ lại trong lòng» (Luc 2:19).

Như vậy, khi đọc Kinh Thánh, chúng ta nhận thấy lời nào, câu nào làm chúng ta chú ý hoặc gây cảm kích, chúng ta hãy nắm giữ lại lời ấy, ghi nhớ lời ấy và êm đềm lặp đi lặp lại cho tới khi nào lời ấy thấm nhập, chuyển hóa ý nghĩ, tâm tư và những mơ ước của chúng ta. Đây là bước thứ hai trong lectio divina. Nhờ meditatio = suy niệm như vậy, Lời Chúa thật sự thấm nhập trong chúng ta, Lời đụng chạm và tác động chúng ta thật thâm sâu.

Oratio (cầu nguyện)

Bước thứ ba trong lectio divinaoratio = cầu nguyện. Cầu nguyện được hiểu theo hai nghĩa. Cầu nguyện có nghĩa là đối thoại, là một lần trò truyện thân tình với Chúa, Đấng mời gọi chúng ta đi vào trong tình yêu thương ôm ấp của Ngài. Cầu nguyện còn có nghĩa là hiến dâng, là hiến tế lên Chúa toàn thân chúng ta mà từ trước tới giờ chúng ta cứ tưởng rằng Chúa không mong muốn thế. Trong lời cầu nguyện hiến tế này, chúng ta cứ để cho Lời Chúa mà chúng ta đang suy niệm đụng chạm và thay đổi chúng ta thâm sâu nhất. Giống như linh mục hiến dâng lên Chúa các thành phần của bánh và rượu trong thánh lễ, Chúa cũng mời gọi chúng ta trong lectio divina hãy dâng lên Chúa các cảm nghiệm khó khăn và đau thương nhất, và chúng ta cứ êm đềm đọc lên lời chữa lành Chúa đang ban cho chúng ta trong lectiomeditatio của chúng ta. Trong phần oratio này, lời nguyện - hiến tế sẽ giúp cho con người thật sự của chúng ta được đụng chạm và được hoán chuyển theo Lời Chúa.

Contemplatio (chiêm niệm)

Sau cùng, chúng ta chỉ việc ngồi yên trong sự hiện diện của Chúa bao trùm. Ngài sẽ dùng Lời của Ngài như một phương tiện mời gọi chúng ta hãy chấp nhận sự ôm ấp biến đổi của Ngài. Không ai đã ở trong vòng yêu thương lại còn cần tới ngôn ngữ để diễn tả nữa. Cũng vậy khi người ta đã tiến vào được mối giây thông hiệp với Chúa. Không cần phải nói gì nữa, chỉ cần yên lặng trong sự hiện diện của Đấng yêu thương chúng ta. Trong truyền thống Kitô giáo, lối cầu nguyện này được gọi là contemplatio = chiêm niệm. Một lần nữa ở đây, chúng ta cần tu luyện thanh lặng, không cần tới ngôn từ nữa. Giờ đây chúng ta chỉ còn việc ngây ngất cảm nghiệm được Chúa đang hiện diện trong chúng ta.


TRIẾT HỌC CÁC GIÁO PHỤ

THỜI ĐẠI CÁC GIÁO PHỤ



Tự bản chất, Kitô giáo không phải là một hệ thống triết thuyết nhằm dung hợp sự khôn ngoan thông thái của nhân loại, nhưng là một mạc khải của Đấng Tối Cao. Đường nét tinh thần căn bản của Kitô giáo không hệ tại vào tính vững chắc của những định chế hay tín điều tôn giáo, mà là thái độ rộng mở trong tương quan yêu thương, thân thiện và vị tha. Tuy thế, bên cạnh những nét đặc thù, Kitô giáo luôn sẵn sàng đối thoại, giao lưu và gặp gỡ với các tôn giáo, các nền văn hóa, văn minh của nhân loại. Lịch sử cho ta thấy văn hóa Kitô giáo phương Tây đã được hình thành từ những đối chất, những tiếp thu, những ứng dụng của Kitô giáo đối với triết học Hy lạp, La mã Cổ đại. Từ vị thế một đối thủ, triết học Hy – La đã dần dần trở nên một người bạn thân thiện của niềm tin Kitô giáo. Tuy rằng, tiến trình này phải trải qua một thời gian dài và rất cam go, nhưng khi được tư tưởng Kitô giáo tiếp nhận, ứng dụng, thì nền văn hóa Hy lạp, La mã trở nên sinh động và hữu hiệu hơn bao giờ hết; đồng thời, các tư tưởng triết học Hy – La trở thành một điểm tựa của niềm tin Kitô giáo, đặc biệt là qua những công trình xán lạn của các Giáo phụ và các nhà Kinh viện trong việc cố gắng tìm kiếm những điểm tương đồng giữa triết lý và đức tin..

.1. Đóng góp của tư tưởng Platon cho thần học các Giáo phụ.

Platon (427 – 348 TCN) là một trong những triết gia Hy Lạp có ảnh hưởng rất lớn đến trào lưu tư tưởng thần học thời Trung cổ. Ông là một triết gia siêu hình và thần bí với tư tưởng chủ yếu là: Học thuyết các ý tưởng. Platon cho rằng, thế giới khả niệm (thế giới các ý tưởng) mới là thế giới của hiện thực. Các ý tưởng liên kết với nhau theo trật tự thấp cao dẫn đến ý tưởng tối cao gọi là Thiện. Đó là nguồn suối của tất cả, bao trùm tất cả.

Từ tư tưởng đó, Plotin đã cố gắng tiếp tục và thúc đẩy học thuyết của Platon theo một chiều hướng thần học và chủ trương đề cao chiêm ngưỡng hơn là tri thức hiểu biết. Kể từ đó, triết học Platon được các Giáo Phụ khai thác và coi như một công cụ hữu hiệu cho mục đích hộ giáo. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ thứ IV, triết học của Platon mới thực sự trở nên sáng giá trong tư tưởng của Thánh Augustino. Theo nhận định của nhiều nhà triết sử, chính Thánh Augustino đã rửa tội cho học thuyết của Platon, khi ngài cố gắng dung nạp tư tưởng của ông vào Kitô giáo, đề xướng một phong trào thần học đầy hứng thú, ảnh hưởng lớn và lâu dài trong giới trí thức Công Giáo. Trong học thuyết sáng tạo của mình, Thánh Augustino khẳng định rằng, vũ trụ do Thiên Chúa sinh ra theo tính tất yếu và ý chí tự do của Người. Mặt khác, trên cơ sở những tín điều Kitô giáo và học thuyết của trường phái Platon về bản chất con người, Thánh Augustino đi đến định nghĩa: con người là sự thống nhất linh hồn và thể xác, trong đó linh hồn đóng vai trò quyết định.

Như vậy, với việc tiếp nhận học thuyết các ý tưởng của Platon, Thánh Augustino đã xây dựng một tư tưởng chủ đạo của thần học các Giáo Phụ: đề cao ý chí, coi linh hồn trọng hơn thân xác. Đây cũng là tư tưởng có ảnh hưởng sâu đậm đến thần học tu đức thời đó, làm xuất hiện một phong trào hành xác đền tội nơi những người đạo đức. Không chỉ thế, triết học của Platon mà Thánh Augustino đã rửa tội còn tạo nên một truyền thống của Dòng Phanxico khi nhấn mạnh đến vai trò của ý chí: Chính tận tâm hồn mình, con người khám phá ra dấu vết Thiên Chúa. Các đại diện cho xu hướng này gồm có: A. Hales, J. Rochelle và thánh Bonaventura.

2. Đóng góp của tư tưởng Aristotle cho thần học Kinh viện.

Aristotle (384 – 322 TCN) là một triết gia uyên bác của xã hội Hy Lạp cổ đại và là học trò xuất sắc nhất của Platon. Tuy nhiên, ông lại là người có tư tưởng chống lại học thuyết của thầy mình. Tư tưởng chủ đạo của ông là đề cao vai trò của lý trí trong quá trình nhận thức của con người, chứ không phải là dựa dẫm vào ý niệm đã được biết từ trước đó của linh hồn. Là người nổi bật nhất trong các triết gia Hy Lạp cổ đại, Aristotle đã xây dựng tư tưởng siêu hình và thần luận học tuyệt vời, làm nền tảng cho nhiều học thuyết triết học sau này, trong đó có hệ thống triết - thần Kinh viện.

Theo nghĩa rộng, Kinh viện có ý nói đến một tinh thần hay một não trạng muốn lấy lý trí phục vụ tôn giáo. Do đó, phương pháp khám phá ra dấu vết của Thiên Chúa theo trào lưu này là đề cao suy tư chứ không chỉ lệ thuộc vào trạng thái chiêm nghiệm của tâm hồn. Chính vì thế, khi các tác phẩm của Aristotle được các học giả Ả rập đem vào Tây phương (khoảng giữa thế kỷ XI), thì các triết gia và thần học gia Kinh viện mau mắn đón nhận, dịch thuật và phổ biến khắp các trường học ở Tây Âu, đến nỗi Đức Giáo Hoàng Grégerio IX phải thành lập một uỷ ban để khai trừ học thuyết của Aristotle. Tuy nhiên, nhờ ảnh hưởng và tác động của thánh Alberto Cả và thánh Thomas Aquinas, triết thuyết của Aristotle mới được Giáo Hội thời đó công nhận. Đặc biệt với thánh Thomas Aquinas, tư tưởng của Aristotle chiếm một vị trí ưu tú trong thần học Kinh viện. Học thuyết của Aristotle được thánh Thomas phát triển như sau: Chất thể không thể tồn tại tách rời khỏi mô thể, nhưng mô thể thì có thể tồn tại tách rời khỏi chất thể. Điều này có nghĩa không một chất thể nào tồn tại độc lập với mô thể tối cao - tức thực thể tinh thần thuần tuý. Dựa vào học thuyết của Aristotle về nguyên nhân, thánh Thomas xây dựng luận chứng về mặt vũ trụ luận, sự hiện hữu của Thiên Chúa như nguyên nhân của tất cả các hiện tượng và các quá trình. Chính vì vậy mà nhiều học giả cho rằng, thánh Thomas đã rửa tội cho học thuyết của Aristotle. Thực ra, điều quan trọng đối với thánh Thomas là truy tầm chân lý. Trên hành trình này, thánh Thomas đã gặp triết thuyết của Aristotle như kẻ đồng hành và đã không bỏ qua cơ hội giảng đạo cho học thuyết đó nhờ ánh sáng của đức tin, tương tự như xưa thánh Phaolô đã thực hiện tại Athena. 

Như vậy, với sự tiếp nhận triết thuyết của Aristotle, thần học Kinh viện đã đạt tới đỉnh cao nơi tư tưởng của thánh Thomas. Thánh nhân đã nghiên cứu lý luận của Aristotle một cách chặt chẽ và đã sử dụng kết luận của triết gia này để chứng minh rằng có Thiên Chúa quan phòng. Cũng chính vì sự xuất sắc đó mà Đức Leon VIII đã tuyên bố: học thuyết của Thomas trở thành bắt buộc với tư cách là “tư tưởng chân chính duy nhất của Kitô giáo”. Tư tưởng này của thánh Thomas còn ảnh hưởng trực tiếp đến Dòng Thánh Đaminh, tạo nên một truyền thống của Dòng: đề cao vai trò của lý trí.

Tóm lại, với những đặc trưng cơ bản của mình, triết học Hy Lạp cổ đại đã có những đóng góp tích cực cho khoa thần học Kitô giáo trong thời Trung cổ. Cùng với sự phát triển phong phú của các trường phái; những suy tư của các triết gia, triết học Hy Lạp đã cung cấp những thuật ngữ, luận chứng để thần học suy tư về mầu nhiệm đức tin và trình bày những chân lý của Tin mừng một cách chắc chắn. Cũng chính vì lý do đó mà nhiều người cho rằng, nền triết học Hy Lạp đã liên kết chặt chẽ với giáo thuyết về đức tin Kitô giáo, trong đó các luận lý và các ý niệm của triết học đi theo những qui luật mới của khoa thần học, và do đó những luận lý và những ý niệm triết học mặc lấy những ý nghĩa mới và có tính cách thần học. Tìm hiểu về những đóng góp trên của triết học Hy Lạp cho thần học Trung cổ, chúng ta còn thu nhận được những bài học quí giá cho hành trình tiếp cận chân lý. Đó là:

Thứ nhất, chính Đức Kitô mới mang lại ơn Cứu độ cho con người chứ không phải triết học, vì triết học dẫu sao cũng chỉ là một nỗ lực của con người đi tìm Thiên Chúa một cách không mấy chắc chắn.

Thứ hai, triết học và thần học không thể đồng hoá với nhau, vì đối tượng của triết học là hữu thể xét như là chính nó, cho nên người ta chỉ có thể dùng nó để truy tìm về nguyên nhân đệ nhất và siêu nghiệm các sự vật. Vì vậy, sứ mệnh khám phá ra Thiên Chúa và chứng minh về Thiên Chúa là của các nhà thần học, chứ không phải của các triết gia.

Cuối cùng, triết học và thần học có mối tương quan chặt chẽ với nhau. Thần học Kitô giáo sử dụng triết học làm nền tảng tri thức tự nhiên; ngược lại, triết học nhờ tham dự vào ý nghĩa mới và có tính cách thần học mà trở nên như một phương thế để khám phá mạc khải siêu nhiên chứ không chỉ dừng lại ở việc khám phá mạc khải tự nhiên như bản tính vốn có của nó.

3. Thánh Tôma Aquinô

Trong tác phẩm thần học của mình, Thánh Thomas đã nêu lên và cụ thể hóa mối liên hệ ấy. Đức tin củng cố, thống nhất và soi động di sản về sự thật lý trí con người có được. Việc tin tưởng rằng Thánh Thomas cống hiến hai khí cụ về  kiến thức là đức tin và lý trí này có thể được dẫn trở về với niềm tin tưởng rằng cả hai đều xuất phát từ cùng một nguồn mạch duy nhất của tất cả mọi sự thật là Lời thần linh, một Lời sinh động  ở cả hai bối cảnh, bối cảnh tạo thành, và bối cảnh cứu độ.  

Cùng với sự thuận hợp nhau giữa lý trí và đức tin, đàng khác, chúng ta cần phải nhìn nhận rằng tự chúng thuận lợi cho hai phương thức kiến thức khác nhau. Lý trí chấp nhận một sự thật vì chứng cớ nội tại của nó, trực tiếp hay gián tiếp; nhưng đức tin chấp nhận một sự thật dựa vào thẩm quyền của Lời Thiên Chúa mạc khải. Thánh Thomas viết ở ngay đầu bộ Tổng Luận Thần Học rằng “Chúng ta cần phải nhớ rằng có hai loại khoa học. Một số khoa học xuất phát từ nguyên tắc được nhận biết bởi ánh sáng tự nhiên của lý trí, chẳng hạn như đại số hay hình học và tương tự  như thế. Có một số khoa học từ những nguyên tắc được biết từ các khoa học cao hơn: vậy khoa học về phối cảnh xuất phát từ những nguyên tắc được nhận biết bởi hình học và nhạc lý từ những nguyên tắc của toán học. Và vì vậy giáo huấn linh thánh là một khoa học vì nó xuất phát từ những nguyên tắc được nhận biết bởi ánh sáng của một khoa học cao hơn, tức là từ kiến thức về Thiên Chúa và các thánh”.

Việc phân biệt này là những gì bảo đảm cho tính chất tự lập của các khoa nhân bản học và những khoa thần học. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là tách biệt, trái lại là một thứ hợp tác hỗ tương và lợi ích. Thật vậy, đức tin bảo vệ lý  trí khỏi bất cứ  xu hướng mất tin tưởng vào những khả năng của mình, phấn khích nó hướng tới những chân trời rộng mở hơn, bảo tồn nó  trong việc tìm kiếm những nền tảng, và khi chính lý trí được áp dụng vào lãnh vực siêu nhiên của mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người thì đức tin làm phong phú công việc của Ngài. Chẳng hạn, theo Thánh Thomas, lý trí của con người nhất định có thể nắm bắt được sự hiện diện của một Thiên Chúa duy nhất, thế nhưng chỉ có đức tin là những gì có thể chấp nhận mặc khải thần linh mới có thể chạm vào mầu nhiệm của Tình Yêu của Thiên Chúa Duy Nhất Ba Ngôi.

Tóm lại, Thánh Thomas nêu lên một quan niệm bao rộng và tin tưởng về lý trí con người: bao rộng vì nó không bị giới hạn vào những lãnh vực được gọi là lý trí khoa học thực nghiệm, nhưng hướng về tất cả mọi hữu thể và vì thế là những vấn đề nền tảng và bất khả chuyển nhượng của sự sống con người, và tin tưởng vì lý trí con người, nhất là khi đón nhận tác động của đức tin Kitô giáo, là một phát động viên của một thứ văn hóa nhìn nhận phẩm giá, nhìn nhận tính chất bất khả vi phạm của các quyền lợi cùng với những nhiệm vụ kèm theo. Không lạ gì giáo huấn về phẩm giá con người, nền tảng cho việc nhìn nhận tính chất bất khả vi phạm của các thứ nhân quyền, đã được khai triển ở các trường phái tư tưởng chấp nhận di sản của Thánh Thomas Aquinas, vị đã có một quan niệm rất cao cả về loài người. Ngài đã gọi nó, bằng ngôn ngữ triệt đệ triết lý của mình, như “cái gì hoàn hảo nhất nơi tất cả thiên nhiên tạo vật, tức là một con người sinh tồn có một bản tính hữu lý” (Summa Theologica, Ia, q. 29, a. 3).

Chiều sâu của tư tưởng Thánh Thomas Aquinas – chúng ta đừng bao giờ quên rằng – tuôn ra một cách sống động bởi đức tin của ngài và lòng đạo đức sốt sắng của ngài, những gì được thể hiện nơi những lời nguyện cầu như lời cầu nguyện được ngài dâng lên Thiên Chúa như sau: “Ôi Chúa là  Thiên Chúa của con, xin hãy cho con một trí khôn để biết Chúa, một con tim để tìm kiếm Chúa, một đức khôn ngoan để thấy Chúa, một tác hành làm hài lòng Chúa, một lòng kiên trì đợi chờ Chúa và một niềm hy vọng để cuối cùng được chiếm hữu Chúa”.

4.Thánh Justin 

Thánh Justin đã sử dụng những điểm tích cực của triết học để biện minh cho đức tin. Ngài đặt vị trí quan trọng cho triết học một nhiệm vụ cao quý là bảo vệ chân lý. Lập trường của Justin là chấp nhận mọi chân lý cho dù nó đến từ đâu “Bất cứ những gì đã được nói ra do bất cứ ai đều thuộc về chúng ta cả”[1]. Tuy nhiên, đối với ngài, mọi suy tư triết học phải dẫn tới lòng kính sợ và tin tưởng vào Thiên Chúa, và đưa đến hạnh phúc chân thật cho con người.

Thánh nhân xem logos như trung gian giữa Thiên Chúa và thế giới. Logos được sinh ra trước khi tạo thành vũ trụ và là một nguồn chân lý. Logos chính là Ngôi Lời Thiên Chúa đã được ban cho nhân loại trước Đức Kitô, và là nguồn chân lý. Do đó, các triết gia ngoại giáo đã có được một thứ “tiềm lời” (Verbum seminale) phổ quát. Nếu họ trung thành với ánh sáng này họ đã là một Kitô hữu rồi. Tất cả những gì được nói ra đúng chân lý, đều là của chúng ta. Tuy nhiên, chỉ nhờ mạc khải của Thiên Chúa, ta mới có thể biết được trọn vẹn và chắc chắn về Ngôi Lời trọn hảo.

5. THIÊN CHÚA CỦA NGƯỜI KHẮC KỶ

Trích lời cầu nguyện của Cléanthe (thế kỷ III trước Công nguyên).
Hỡi Zéus, Ðấng Vĩnh sinh muôn trùng vinh hiển, toàn năng đời đời,
Ðấng chúng nhân kêu cầu dưới bao danh hiệu,
Là tác giả của thiên nhiên, điều khiển mọi sự theo định luật,
Con xin kính bái Ngài, vì lẽ mọi con người đều có thể thưa lên với Ngài, mà không nghịch đạo.
Vì chính từ Ngài mà chúng con hiện hữu, và vì, trong mọi thọ sinh mọi loài có sự sống và di chuyển trên mặt đất, chỉ duy chúng con được Ngài thông ban âm thanh phỏng theo vạn vật.
Chính vì thế con sẽ hát ca ngợi khen và chúc tụng quyền năng Ngài mãi mãi..
Vâng, cả khối trời lồng lộng xoay quanh trái đất
Ðều tuân phục Ngài, nơi nao Ngài dẫn đến,
Không điều gì xảy ra mà lại không có Ngài,
Lạy Thiên Chúa, dù là nơi đất thấp, dù là chốn cao xanh thăm thẳm, hay trong biển khơi, trừ phi là tội ác của bọn xấu xa trong cơn rồ dại.
Ðến mức, một Lý Tính (Logos) độc nhất phát sinh từ chúng tất cả và sẽ tồn tại muôn đời.
"Logos", phải là thước đo vạn vật, đó là xác tín mà các nhà triết học, khoa học thời đó không ngừng lập đi lập lại.
Chính từ đó đã nẩy sinh một trong những bác bẻ nền tảng nhất mà các nhà trí thức thường xuyên đặt ra đối với thái độ "tin" mà Do Thái Giáo và Kitô giáo đòi hỏi: Theo họ, đức tin là cái đi ngược với lý lẽ, là sự phủ nhận lý trí. Chúng ta thấy bác bẻ này đã được đưa ra vào thế kỷ II, dưới ngòi bút của một triết gia chiết trung như Celse, và do cả những bậc thầy của phái Khắc Kỷ như Épithète, Marc-Aurèle, hay do một y sĩ như Galien, tất cả đều cho rằng chỉ duy có "lý lẽ" và sự "chứng minh" mới là những tiêu chuẩn của chân lý. Chắc chắn rằng, lời bác bẻ đó thường phát xuất từ một tinh thần thực sự là duy lý, tiên thiên gạt bỏ tất cả những gì không thể chứng minh được theo lý trí. Thế nhưng, trong mức độ đòi hỏi những quyền chính đáng của lý trí, nó hiển nhiên đặt ra một vấn đề mà người Kitô hữu không thể tránh né.Quyền chính đáng của lý trí, đó là điều mà các nhà trí thức Kitô giáo như Justin vẫn thao thức. Họ thuộc về một thế giới đang đặt ra những đòi hỏi mới của lý tính so với bối cảnh sơ khai, và họ cảm thấy việc nhìn thẳng vào những đòi hỏi này là một nhu cầu sinh tử đối với đức tin. Về điểm này, có lẽ không một Giáo phụ nào đã có những lời lẽ mạnh như Clément d'Alexandrie ở đầu thế kỷ thứ III: "Nhiều Kitô hữu sợ triết học Hylạp như trẻ con sợ ngáo ộp, sợ bị triết học này chinh phục. Nếu đức tin của chúng ta là như thế. nếu nó sụp đổ trước sự thuyết phục của lý luận, thì hãy để cho nó sụp đổ, bởi lẽ qua đó chúng ta chứng tỏ rằng chúng ta đã không có chân lý" (Stromate VI, 10.80.5). Nói khác đi, nếu đức tin không muốn phủ nhận chính mình, thì phải chấp nhận nhìn thẳng và trả lẽ về mình cho thế giới trong đó mình sống.

Ðây cũng chính là xác tín của Justin, nhà trí thức Kitô giáo đầu tiên có một lập trường triệt để trước triết học Hy Lạp và nỗ lực của lý trí con người.

6. Celse, một triết gia ngoại giáo thế kỷ II, tố giác Kitô giáo là kẻ thù của lý trí, của văn hóa và của nhân đức.

Các giáo thuyết chỉ có thể chấp nhận khi có sự hướng dẫn của lý trí và của người dẫn đạo biết suy nghĩ, bởi nếu không thận trọng như thế, thì sai lầm là điều không thể tránh khỏi khi người ta tin theo một số người. Những kẻ tin cách vô lý như thế, là những kẻ, chẳng hạn, tin vào các tăng lữ của Cybèle, tin vào các thầy bói, vào những kẻ sùng tín thần Mithra và Sabazios, tin vào tất cả những gì họ gặp thấy, những lần hiện ra của Hécate, của thần này quỉ nọ. Vì, nếu như trong số bọn chúng thường có những tên bại hoại, lợi dụng sự ngu dốt của những kẻ cả tin, lừa phỉnh và xỏ mũi họ theo như chúng muốn, thì bọn Kitô hữu cũng thế. Một số người không suy nghĩ cũng chẳng nghe theo lý lẽ của ai, đã dùng những kiểu nói này. "Ðừng xem xét, nhưng hãy tin; đức tin sẽ cứu người" . Họ nói: khôn ngoan, trong thế gian này, là một sự dữ và điên rồ là một sự thiện.

Ðây là lệnh của chúng: Hãy lui xa, hỡi kẻ có văn hóa, những kẻ khôn ngoan, những ai biết phán đoán! Và bao nhiêu danh xưng như thế mà chúng cho là xấu xa. Nhưng nếu có kẻ nào ngu muội, ngớ, ngẩn, không có văn hóa, con nít, thì kẻ đó mạnh dạn đến đây! Khi cho rằng, chỉ những người như thế mới xứng với Thiên Chúa của chúng, chúng chứng tỏ rằng, chúng chỉ muốn và chỉ có thể thuyết phục bọn người ngu ngơ, tầm thường, xuẩn ngốc: bọn nô lệ, đàn bà, trẻ con. Có văn hóa, học hỏi những học thuyết cao đẹp, khôn ngoan và tỏ ra là người khôn ngoan, những điều đó có gì là xấu? Nó cản trở tri thức về Thiên Chúa? Nó lại không là một sự hỗ trợ, một phương thế hiệu nghiệm hơn để đạt tới chân lý hay sao?.

Chúng nói rằng Thiên Chúa đã được phái đến với người tội lỗi. Thế thì tại sao Ngài lại không được gửi đến với những người không sống trong tội lỗi. Sống không tội lỗi thì có gì xấu? Chúng nói: Chớ gì kẻ bất chính hãy tự hạ trong ý thức về sự khốn cùng của mình, Thiên Chúa sẽ đón nhận người đó; nhưng người công chính trong nhân đức nguyên sơ của mình ngước mắt nhìn lên Ngài thì Ngài lại không đón nhận (.). Cũng có thể đúng là nhân loại có khuynh hướng tự nhiên phạm tội, và nếu quả thực mọi người là tội nhân, thì hẳn Ngài phải kêu gọi mọi người, không trừ ai. Vậy tại sao lại có sự ưu ái đối với người tội lỗi?

(Theo Origène, Contre Celse: Sources Chrétiennes n. 132, p.97ss; n. 136, p.106ss)

7. Thánh Clément 

Sau thánh Justin, Clêmentê cũng có thái độ cởi mở với triết học. Ngài cho rằng, triết học, cho dù không thể thay thế cho đức tin nhưng nó chuẩn bị cho tâm hồn con người đón nhận đức tin. Thánh nhân trình bày đức tin Kitô giáo như một triết lý chân chính. Tri thức và đức tin thống nhất với nhau, nhưng trong sự thống nhất ấy ưu thế nghiêng về đức tin, không có đức tin không có tri thức, nhưng đức tin mà không cần tri thức chẳng khác nào một nền móng mà không có nhà xây trên đó. Con đường của triết học là con đường đi từ chân lý tản mạn đến những chân lý thống nhất, loại bỏ những hoài nghi và ngộ nhận mà đức tin là đích đến của nó. Triết học chân chính là sự nhận thức các bản thể thần linh và con người, là khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa Thiên Chúa – con người – vũ trụ.

8. Tertullien 

Khác với thánh Justin và Clément, Tertullien tỏ thái độ chống đối hoàn toàn với triết học. Ông coi các triết gia là ông tổ của những người lạc giáo. Đức tin không đón nhận được bằng lý trí. Ngài nói: một người tín hữu quê mùa dốt nát có thể trả lời những câu hỏi về Thiên Chúa cách rành mạch hơn một triết gia lỗi lạc xuất chúng.

Từ chỗ cực đoan về niềm tin, ông đã bỏ rơi hai chức năng của triết học là nghiên cứu và xây dựng. Trong nhận thức luận Tertullien theo đường lối duy cảm luận khắc kỷ, đề cao vai trò tự nhận thức, hay cảm tính bên trong. Trong vấn đề thần học ông khẳng định tính chất đáng tin cậy uy quyền của Giáo hội.

9.Dung hòa giữa đức tin và lý trí

Qua thế kỷ thứ V, Thánh Giáo phụ tiêu biểu là Augustin (354 – 430) với câu nói trứ danh: “hãy hiểu để tin, hãy tin để hiểu” (Intellige ut credas, crede ut intellgas). Trong công thức này, chúng ta thấy, giữa đức tin và lý trí có sự tác động biện chứng và gắn kết với nhau. Nhờ có lòng tin, con người nhận biết Thiên Chúa, nhờ có lý trí con người am tường được Đấng Anh Minh là nguyên nhân mọi sự. Vế thứ nhất “hãy hiểu để tin” có thể hiểu theo hai cách. Thứ nhất, đối với người chưa có lòng tin thì học biết về Thiên Chúa qua Kinh Thánh, tìm kiếm Người trong những quy luật của thực tại. Trong thực tế đã có nhiều người gặp được Chúa đang khi mải mê chinh phục thiên nhiên, khám phá vũ trụ. Trường hợp của tiến sĩ vật lý học Phan Như Ngọc là một ví dụ. Nhờ vào quan sát và nghiên cứu thực tại vũ trụ và tiếp cận với những tư tưởng vĩ đại như Newton, Victor Hugo, Einstein, ông đã thừa nhận rằng Thiên Chúa hằng hữu, dù trước đó ông là một đại biểu vô thần. Ngài tiến sĩ, người Mỹ, Francis S. Collins, Giám đốc dự án giải mã gen người, qua hơn một chục năm nghiên cứu nhằm tìm ra trình tự ADN đã viết tác phẩm nổi tiếng “Ngôn ngữ của Chúa”. Thứ hai, đối với người đã có lòng tin vào Thiên Chúa thì tìm hiểu thêm để kiểm chứng lòng tin của mình, nhận biết về Người cách sâu xa hơn và tin tưởng chắc chắn hơn.

Như vậy, lý trí và đức tin không tách biệt nhau và không làm cho con người mất khả năng nhận biết mình, nhận biết thế giới xung quanh, và quan trọng là nhận biết Đấng đã làm cho thế giới có trật tự là Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện và toàn mỹ.

Vế sau của lời bất hủ “hãy tin để hiểu” là lời vọng của mỗi người muốn tiến tới trong sự tìm kiếm chân lý. Mọi người đều khát vọng hiểu biết, nhưng đối tượng của khát vọng ấy chính là chân lý. Đức tin không phải là một ý niệm chết cứng hay chỉ nhận thức một lần cho tất cả, mà đòi hỏi lý trí luôn khám phá và kiếm tìm. Con người tìm kiếm chân lý, trong từng biến cố, không phải bằng cách khép mình lại trong một ốc đảo, mà bằng sự khoan dung, cởi mở, hòa hợp chính mình với những biến cố đó, để có thể đón nhận những giá trị trội vượt hơn mình, và từ đó, con người mới có lời đáp trả thỏa mãn và đầy tin tưởng. Triết học giúp con người nhất quán về tư duy và vững chắc về niềm tin chứ không phải chỉ là một thứ tri thức ngược chiều với niềm tin tôn giáo. Một lần nữa, sự hài hòa cơ bản của nhận thức triết lý với sự cảm thức của đức tin được củng cố. Đức tin đòi hỏi đối tượng của nó phải được lý trí hiểu biết, phân tích; còn lý trí khi nghiên cứu cho đến cùng, phải chấp nhận điều đức tin trình bày.

10. Những bài học từ thời kỳ các Giáo phụ

Đức tin cần đến sự liên minh với triết học. Với ý định tốt đẹp và cao thượng, các Giáo phụ chủ trương thống nhất mọi thứ tản mát (ám chỉ tính muôn màu muôn vẻ của triết học Hy lạp) về một chân lý duy nhất. Triết học Kitô giáo có kinh điển và Kinh Thánh của mình. Các Giáo phụ đã làm sống dạy truyền thống tư duy bằng ngôn ngữ triết học và phổ biến nó. Kinh Thánh là bộ sách quý giá nhất đối với các Giáo phụ cũng như với mọi tín hữu. Một bộ sách chứa đựng chân lý hoàn hảo về hồng phúc và sự thiện. Kinh Thánh là Lời Thiên Chúa mạc khải cho con người, là chỗ dựa tinh thần của đời sống Kitô hữu, là nguồn sinh lực tiềm tàng của triết học và thần học. Nhưng để niềm tin Kitô giáo được vững chắc và được con người đón nhận, cần phải được luận giải, chứng minh bằng lý trí hầu làm cho niềm tin Kitô giáo minh bạch hơn.

Trong tinh thần ấy, Kitô giáo rất cần đến sự liên minh với triết học, lấy tư tưởng, ngôn ngữ triết học để lý giải, chú giải nội dung của Kinh Thánh. Tuy nhiên, trong tôn giáo không chỉ có liên minh với triết học mà ngược lại, đối với triết học cũng cần phải có sự tham gia tích cực của niềm tin tôn giáo; để từ đó vai trò của triết học được tỏ rõ trong lĩnh vực hoạt động của mình. Một truyền thống chỉ có lý trí mới cho phép con người nhận thức được chính mình, nhận thức được những vấn đề xung quanh mình như vũ trụ – con người.

Trên con đường tìm kiếm Thiên Chúa, con người cần phải có lý trí dẫn đường để đức tin không bị mù quáng, sai lạc. Mặt khác, tin tưởng cũng là một hình thức suy tư. Thánh Augustin nói rằng, một người không có khả năng suy tư thì không có khả năng tin tưởng.

Đức tin soi sáng cho lý trí. Các Giáo phụ thời kỳ phôi thai, cho dù đã thấy được những điểm tích cực của triết học và vận dụng nó trong việc xây dựng niềm tin nơi con người, nhưng chưa nhìn nhận đúng mức về vai trò và mối tương quan giữa lý trí và đức tin. Đến thánh Giáo phụ Augustin thì đức tin và lý trí mới thực sự được nhìn nhận một cách đúng đắn hơn và sự dung hòa giữa chúng mới minh bạch hơn. Đây là giai đoạn có ý nghĩa trong việc dung hợp giữa đức tin và lý trí cách sâu xa nhất. Ta thấy ước vọng hiểu biết là một đặc tính chung của mọi người. Trí tuệ có thể giúp cho chúng ta tin và tin vững chắc hơn, kín múc được tầng nước sâu của đặc sủng. Mặt khác, thế giới và những gì xảy ra trong đó, cũng như những bước thăng trầm của lịch sử đều là những thực tại được nhìn nhận, được phán đoán bằng phương tiện riêng của lý trí. Nhưng đức tin không đứng như khách bàng quang, dửng dưng, cũng không phải là khách trọ trước một biến cố mới xảy ra nơi thực tại. Đức tin tham gia vào đó không làm giảm nhẹ quyền tự quyết của lý trí hay để hạn chế lãnh vực của nó, mà đức tin làm cho lý trí, hiểu biết của con người thêm vững mạnh hơn, sâu sắc hơn và hữu hiệu hơn. Đức tin làm cho cái nhìn bên trong sắc bén và giúp cho lý trí khám phá ra sự hiện diện của Đấng Anh Minh an bài mọi sự trong từng biến cố cuộc đời.

Vậy, qua những điểm nói trên, chúng ta nhận thấy rằng một Kitô giáo thực sự đã bước vào lịch sử nhân loại. Có lẽ những bước đi ấy không mang tính vang dội và quyết liệt bởi một sức mạnh võ trang, nhưng chỉ là một hạt giống âm thầm gieo vào lòng đất, lớn lên và phát triển. Đó là một sự trưởng thành đầy ý nghĩa về phẩm chất nhân văn, nhân bản của lịch sử Kitô giáo. Quả thật, với niềm tin Kitô giáo không phải là mảnh đời tách biệt với suy tư lý trí của con người, mà nó luôn luôn gắn liền với tư duy nhân loại.




VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC TRONG VIỆC HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU THẦN HỌC

VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC

TRONG VIỆC HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU THẦN HỌC


                                                  HỌC VIỆN PHAOLO NGUYỄN VĂN BÌNH - KHỐI MTG

      I.            DẪN NHẬP

Triết học, một danh từ xuất hiện từ những thời xa xưa của lịch sử nhân loại và tồn tại tiệm tiến đến ngày nay qua bao thăng trầm biến động của thời cuộc. Trong thông điệp “Fides Et Ratio”, Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã đặt triết học vào trong nhu cầu và khát vọng sâu xa của con người về chân lý và nhận định rằng “triết học phát sinh và được trau dồi vào lúc con người bắt đầu nêu câu hỏi về lí do và mục đích của vạn vật”. Thật vậy, trước khi có triết học, nhu cầu sống đã đòi buộc con người phải tìm hiểu thiên nhiên, sự vật xung quanh để có thể hành động hiệu quả, để sử dụng thiên nhiên và tránh né những mối nguy hiểm của nó, và như thế họ đã phải nêu lên những câu hỏi về nó nhưng những câu hỏi này mang tính thực dụng và riêng lẻ, nghĩa là nhắm vào lợi ích trước mắt và liên quan tới từng sự vật và hiện tượng riêng. Một phần nào đó, chính từ các nhận thức thường nghiệm này là sự ra đời và dần dần phát triển một cách có phương pháp, có tổ chức và hệ thống của các ngành khoa học. Nhưng đồng thời con người có ý thức và tự do biết mình là “độc nhất vô song” trong thế giới sự vật, cũng dặt ra những câu hỏi sâu xa và tổng quát về nguồn gốc và ý nghĩa về thế giới và cuộc đời mình. Câu trả lời cho những vấn nạn như thế được tìm thấy trước hết qua các huyền thoại, thi ca và niềm tin tôn giáo của các dân tộc rồi tiếp theo và đặc biệt là trong triết học. Aristote trong cuốn thứ nhất của siêu hình học đã xác nhận: “Chính sự ngạc nhiên đã thúc đẩy các nhà tư tưởng đầu tiên đến các suy tư triết học”. Theo đó, nét tiêu biểu nhất của triết học là chỉ dựa trên lí trí để suy nghĩ về những vấn đề trên không phải theo tình cảm, trí tưởng tượng hay niềm tin, mặc dù những nguồn đó cũng là những nguồn cho nhận thức.

Về phần mình, thần học được xem như sự khởi thảo phản tỉnh và khoa học về lời Chúa qua ánh sáng đức tin, được tổ chức theo hai nguyên tắc phương pháp luận: lắng nghe đức tin và hiểu biết dức tin. Theo Đức Thánh Cha, thần học phải “bắt liên lạc với những triết học được thực sự khởi thảo qua dòng lịch sử, đối với một số những phát triển và phận vụ riêng, chứ không được thụ thụ bất thật”. Quả thế, không có gì ngăn cấm thần học sử dụng triết học để hoàn thành công trình riêng của mình, để tìm hiểu các chân lí mặc khải. Tuy nhiên thần học không nhất thiết phải lệ thuộc vào một triết thuyết, nhưng chỉ sử dụng triết học trong chừng mực thích hợp. Theo nghĩa này: triết học là người phục vụ (ancilla) của thần học. Nhưng điều này không có nghĩa là triết học tự bản chất phải tuỳ thuộc vào thần học vì có mục đích để phục vụ thần học. Nhưng triết học có mục đích riêng của nó là để lý giải một cách hữu lý nguyên nhân tối hậu của vũ trụ vạn vật. Vì thế có thể hiểu triết học được thần học sử dụng như một phương tiện để truy tìm chân lý. Điều đó giúp giải quyết các vấn nạn được đặt ra xoay quanh vấn đề: Thần học tự nó có đủ sức làm sáng rõ hoàn toàn chân lý mặc khải mà không cần nại đến tư duy triết học không?  Đâu là vị thế của triết học trong các nghiên cứu và học tập thần học? Đâu là giới hạn để phân tách vai trò và nhiệm vụ của triết học trong khi can thiệp vào các suy tư thần học? Có xảy ra sự xung đột giữa nhận thức của đức tin và nguyên tắc của lí trí trong quá trình tiếp nhận?

Để nhận thức đầy đủ vấn đề, chúng ta cùng tìm hiểu về sự tương tác giữa triết học và thần học qua thông điệp “ Đức tin và lí trí” của Đức Thánh Cha.



   II.            NỘI DUNG

v  Vấn đề 1: Thần học- diễn từ thuần lý về Thiên Chúa

Thần học- theo Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, là dùng lí trí được đức tin soi sáng để hiểu biết hơn những chân lí Mặc Khải. Theo đó, thần học cũng là khoa học theo nghĩa rộng, tức là một môn học có đối tượng và phương pháp rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ hợp lí, sử dụng những ý niệm có tính chính xác cao. Lịch sử cũng đã chứng minh là các nhà tư tưởng kitô giáo đã tiếp nhận triết học một cách có phê phán. Trong số đó Origiênô là người nổi bật, để đối phó với những công kích của triết gia Celsiua, ông đã hình thành triết học Platon để hình thành lập luận của mình và tổ chức cuộc đối đáp. Với nhiều yếu tố của tư tưởng Platon, ông bắt đầu xây dựng một hình thức đầu tiên của “thần học kitô giáo”. Riêng tên gọi “thần học” cùng với quan niệm thần học như một diễn từ hợp lí về Thiên Chúa, về mặt này cũng đã gắn liền với nguồn gốc Hy Lạp. Trong triết học Aristote chẳng hạn, từ thần học chỉ về phần cao quý nhất và chóp đỉnh đích thực của triết học. Nhưng dưới ánh sáng mặc khải Kitô giáo, điều trước kia có nghĩa là một học thuyết chung về các thần minh, nay mang một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ, nói về sự suy tư của người tín đồ nhằm diễn tả đạo lí chân chính về Thiên Chúa. Trong quá trình phát triển, tư tưởng Kitô giáo mới này đã sử dụng triết học, nhưng đồng thời vẫn quan tâm phân biệt mình với triết học.

Thật vậy, với hai phương pháp luận: lắng nghe đức tin và hiểu biết đức tin, thần học được tổ chức rõ ràng và đầy đủ như một khoa học đức tin. Theo nguyên tắc thứ nhất, thần học chiếm hữu nội dung của mặc khải như được phát triển dần dần trong thánh truyền, trong Thánh Kinh và trong huấn quyền sống động của Giáo Hội. Nhờ nguyên tắc thứ hai, thần học muốn trả lời cho những đòi hỏi riêng biệt của tư tưởng, bằng cách nại đến suy tư trừu tượng. Trong thực tế, nền thần học của Giáo hội sử dụng nhiều các khái niệm triết học đến nỗi người ta không thể hiểu nó đầy đủ mà không được đào tạo về triết học. Triết học giúp ta đón nhận nội dung của chân lí đức tin được mặc khải qua Lời Chúa và truyền thống sống động, bởi vì khi được ghi chép lại hay khi được công bố trong lời giảng dạy, chân lí đó lệ thuộc vào lịch sử, tư tưởng, ngôn ngữ… của những nền văn hoá nhất định. Mà triết học cho thấy những quy luật của ngôn ngữ, cơ cấu của nhận thức và ý nghĩa chính xác của những khái niệm được sử dụng. Do đó, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của triết học trong việc nghiên cứu và khám phá các mầu nhiệm được mặc khải trong các suy tư thần học.



v  Vấn đề 2: Vai trò của triết học trong học tập và nghiên cứu thần học

Tác động đến các nguyên tắc, phương pháp luận trong suy tư thần học, triết học đã chứng minh tính năng bổ trợ độc đáo của mình. Từ việc chuẩn bị để lắng nghe đức tin cho đúng đắn, triết học mang đến sự trợ giúp độc đáo cho thần học, khi nó nghiên cứu cấu trúc của nhận thức và của sự liên lạc của các ngôi vị, đặc biệt là những hình thức, những chức năng khác nhau của ngôn ngữ. Thật vậy, thần học trước hết là sự lắng nghe đức tin tức là sự triển khai mặc khải trong truyền thống bởi huấn quyền của Giáo Hội. Sự đóng góp của triết học thật quan trọng để thấu hiểu một cách mạch lạc Thánh Truyền của Giáo Hội, những phán quyết của huấn quyền và những ý kiến của những danh sư thần học: quả thực những yếu tố khác nhau thường được biểu thị bằng                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                        những quan niệm và dưới những hình thức mượn của truyền thống triết học nhất định. Trong sự hiểu biết đức tin, chân lí được minh giải không những chỉ bằng cách nhận ra những cấu trúc luận lí và trừu tượng của những mệnh đề mà Giáo Hội dùng để hung đúc giáo huấn của mình, nhưng còn và nhất là còn làm nổi bật ý nghĩa cứu độ mà những mệnh đề ấy hàm chứa đối với các cá nhân và nhân loaị, nhờ triết học chiều kích phổ quát của ơn cứu độ được làm sáng tỏ. Có thể hiểu rằng, làm sao có thể diễn tả về Thiên Chúa và mối tương quan liên vị của Thiên Chúa, mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa với thần tính và nhân tính của Đức Kitô mà không dùng đến những khái niệm tương xứng thích đáng. Do đó, đòi hỏi đức tin phải có nhận thức tự nhiên về thế giới, tự nhiên, con người, hữu thể…  Tức là phải có triết học làm nền cho những nhận thức đó. Theo đó, các nghiên cứu thần học luôn nại đến sự nhận biết và hỗ trợ cách chuyên biệt bởi  các kiến thức về triết học. Điều này được chứng minh cụ thể qua các lãnh vực nghiên cứu cụ thể của các đối tượng thần học.

Trước tiên phải kể đến  thần học tín  lí, trong chuyên ngành của mình, thần học tín lí phải có khả năng phối hợp ý nghĩa phổ quát của mầu nhiệm Một Thiên Chúa Ba Ngôi, và của nhiệm cục cứu độ, hoặc theo lối trình thuật, hoặc trước hết bằng dạng thức biện luận. Thần học phải thực hiện công việc đó qua những triển khai tư tưởng trừu tượng, phổ cập, được trình bày một cách phê bình. Do đó,không có sự trợ giúp của triết học, người ta không thể thuyết minh những đề mục thần học, chẳng hạn như ngôn ngữ về Thiên Chúa, những tuơng quan ngôi định giữa Ba ngôi Thiên Chúa, công trình tạo thành của Thiên Chúa trong thế giới, tương quan giữa Thiên Chúa và con người, căn tính của Chúa Kitô, là Thiên Chúa thật và là người thật. Những suy tư ấy cũng có giá trị đối với những đề mục về thần học luân lí, vì vậy, phải nhờ đến những quan niệm như luật luân lí, lương tâm, sự tự do, trách nhiệm cá nhân, tội lỗi… những quan niệm được định nghĩa trong lãnh vực triết lí luân lí. Có thể nói, thần học tín lí trừu tượng giả định và ngầm hiểu một nền triết học về con người, về thế giới và một cách căn đế hơn, về hữu thể, xây dựng trên chân lí khách quan.

Riêng với thần học nền tảng, một môn học có nhiệm vụ phải biện lí cho đức tin, bản thân nó phải nỗ lực duyệt chính và minh nhiên hoá giữa đức tin và suy tư triết học. Khi lấy lại giáo huấn của Thánh Phaolo (xc.Rm1,19-20), Công Đồng chung Vaticano I đã lưu ý chúng ta đến sự kiện là có những chân lí tự nhiên, và như vậy có thể được triết học nhận biết. Việc nhận biết những chân lí ấy là một giả định cần thiết để tiếp nhận mặc khải của Thiên Chúa. Cũng một cách, thần học nền tảng phải chứng minh sự tương hợp sâu sắc giữa đức tin và yêu sách thiết yếu của nó về sự giải thích bằng lí trí, để lí trí thuận theo một cách tự do đầy đủ. Như vậy dức tin sẽ biết “chỉ lối đầy đủ cho một lí trí thiết thực nghiệm cứu chân lí. Như thế, đức tin, hồng ân của Thiên Chúa, dù không đặt nền tảng trên lí trí, nhưng hẳn không thể phớt lờ lí trí. Đồng thời cũng thấy lí trí cần được đức tin củng cố, để khám phá những phạm vi mà nó tự mình không thể đạt tới”.

Đối với thần học luân lý, triết học còn có sự đóng góp lớn lao hơn nữa. Chiếu theo đời sống theo Tân Ước, dưới sự soi sáng của Thánh Linh và những môi trường áp dụng đặc thù của đời sống cá nhân hay xã hội, người Kitô hữu phải vận dụng sâu sắc lương tâm hay khả năng suy luận của mình. Nói cách khác, thần học luân lí phải nại đến một quan niệm đúng đắn về bản tính nhân loại và về xã hội, cũng như về những nguyên lí tổng quát của một sự quyết định luân lí.



v  Vấn đề 3: Các nền văn hoá và hệ luỵ của nó đối với triết học và thần học

Có một số người bắt bẻ cho rằng các nhà thần học ngày nay không cần nhờ tới triết học cho bằng cần những sự giúp đỡ của những loại nhận thức khác như lịch sử, những tiến bộ khoa học đã làm cho mọi người thán phục. Cũng có người nhaỵ cảm chủ trương cho rằng thần học phải quan tâm tới sự khôn ngoan chứa đựng trong truyền thống các dân tộc hơn là một nền triết học có nguồn gốc Hy Lạp và Châu Âu. Ngoài ra cũng có những quan niệm sai lầm về tính đa nguyên văn hoá nên phủ nhận giá trị phổ quát của di sản triết học của Giáo Hội.

            Trên thực tế, các nền văn hoá nếu chỉ mang tính đặc thù thì việc hội nhập văn hoá dễ mang tính hình thức vì chưa đủ sức làm biến đổi tâm thức văn hoá, sự việc này dễ dẫn đến tình trạng thoả hiệp văn hoá, mà đức tin mang tính phổ quát, đòi hỏi một sự thay đổi tận căn. Nhờ vậy cuộc gặp gỡ giữa đức tin và các nền văn hoá sẽ tạo nên một cái gì đó mới mẻ. Mặt khác, do tính phong phú và khuynh hướng vươn tới chỗ hoàn chỉnh của mình, các nền văn hoá trình bày những con đường khác nhau để dẫn đến chân lí, vì chính trong văn hoá có một khả năng nội taị để đón nhận mặc khải của Thiên Chúa. Cách thức mà người Kitô hữu sống niềm tin của mình cũng thấm nhuần bởi nền văn hoá của môi trường xung quanh, và về phần mình, cũng góp phần vào việc hung đúc dần dần những đặc tính của nền văn hoá ấy. Những Kitô hữu mang lại cho mỗi nền văn hoá chân lí bất di bất dịch của Thiên Chúa, được chính Ngài mặc khải trong lịch sử và trong nền văn hoá của một dân tộc. Thành thử, một nền văn hoá không bao giờ trở thành tiêu chuẩn phán đoán và càng không thể trở thành tiêu chuẩn tối hậu của chân lí, trong những điều kiện liên quan đến mặc khải của Thiên Chúa. Vậy Tin Mừng không đối nghịch với nền văn hoá, trái lại, Tin Mừng mang đến cho thế giới và các nền văn hoá một lời mời gọi tiến đến chân lí vẹn toàn. Trong sự gặp gỡ giữa các nền văn hoá và Tin Mừng, các nền văn hoá chẳng những không mất mát chi hết, lại còn được khích lệ để cởi mở đón nhận cai mới mẻ của chân lí, của Tin Mừng và nhờ đó mà hồ hởi phát triển thêm. Hơn nữa, mặc dù các khoa học tự nhiên và văn hoá, cũng như các kho tàng văn minh truyền thống là điều quý báu, nhưng cả văn hoá và khoa học cũng cần đến những tư duy triết học để có thể nhận ra những giá trị chân lý phổ quát nơi các khoa học và các kho tàng khôn ngoan. Thế nhưng, do ảnh hưởng của văn hoá, một số triết gia đã từ bỏ việc nghiên cứu chân lí, lấy việc chắc chắn chủ quan và lợi ích thực dụng như mục đích duy nhất. Điều đó làm lu mờ vị trí đích thực của lí trí, lí trí khôngcòn được chuẩn bị để biết điều chân thật gây nên sự phân li giữa đức tin và lí trí, hố sâu giữa đức tin và lí trí bị khơi sâu thêm bởi suy tư của những người có suy tư thiên lệch về triết học như vậy.

Đức Thánh Cha khẳng định: “Ngày nay, cùng với đà tiếp cận với các môi trường văn hoá cho đến nay nằm ngoài vùng quang tỏa của Kitô giáo, có những nỗ lực mới để hội nhập văn hoá. Có những vấn đề đặt ra cho thế hệ chúng ta, tương tự như những vấn đề Giáo Hôi phải đối phó trong những thế kỉ đầu.” Qua đó, Ngài nhắc lại về những buổi đầu khi mà Kitô giáo lần đầu tiên chịu ảnh hưởng của nền triết học Hy Lạp, và nhận định rằng với việc tiếp cận và hoà nhập với các nền văn hoá mới là vấn đề cấp thiết mà chúng ta phải thực hiện. Ngài cũng đưa ra những nét văn hoá tiêu biểu của nền triết học Đông Phương cổ kính, đặc biệt là văn hoá Ấn Độ, một đất nước huyền bí với một nền văn minh triết học lâu đời và đề ra các cách thức để đưa Kitô giáo hội nhập vào văn hoá, qua đó rút tỉa ra từ di sản lớn lao này những yếu tố tương hợp với đức tin của mình để làm cho tư tưởng Kitô giáo thêm phong phú. Ngài cũng áp dụng nguyên tắc này đối với di sản các nền văn hoá lớn khác như Trung Quốc, Nhật Bản và những nước Châu Á khác, cũng như cho những sự giàu có của các truyền thống Châu Phi mà phần lớn được truyền khẩu.

Dưới ánh sáng của những suy tư này, mối liên hệ giữa thần học và triết học phải được hiểu đúng nhất như một vòng tròn, Nguồn suối và khởi điểm của thần học phải luôn luôn là lời Thiên Chúa được mặc khải trong lịch sử, còn mục tiêu cuối cùng của nó là hiểu biết lời ấy, môt sự hiểu biết gia tăng qua các thế hệ.Tuy nhiên, vì Lời Chúa là chân lí nên để giúp hiểu biết lời ấy hơn, công cuộc tìm kiếm chân lí trong triết học theo những quy tắc riêng chỉ có thể là hữu ích mà thôi. Điều đó không có nghĩa đơn giản là suy luận thần học sử dụng ý niệm này hay ý niệm kia, hay yếu tố nào đó của môt công trình triết học; điều quan trọng nhất là lí trí người tín hữu vận dụng những khả năng suy tư vào việc tìm kiếm chân lí bên trong một tiến trình khởi đi từ Lời Chúa nhằm đạt tới một sự hiểu biết lời ấy hoàn hảo hơn. Khi di chuyển giữa hai cực ấy – tức Lời Chúa và sự hiểu biết Lời ấy – lí trí như được hướng dẫn và được báo trước cho biết để có thể tránh những con đường có thể đưa nó đi chệch xa khỏi chân lí mặc khải và rút cuộc ra ngoài chân lí. Không những thế, lí trí còn được thúc đẩy để thăm dò những con đường mà tự nó không ngờ mình có thể bước theo. Mối liên hệ vòng tròn này với Lời Chúa làm cho triết học thêm phong phú, bởi vì lí trí khám phá ra những chân trời mới mẻ và không ngờ. Điều này được chứng minh bởi sự thành công của các Giáo Phụ, tiêu biểu như Thánh Ghegorio Nadien và Thánh Âu Tinh, các tiến sĩ thời trung cổ như Axenmo, Bonaventura, Toma Aqino. Những nhà thần học Kitô giáo lớn đồng thời cũng là những triết gia lỗi lạc. Mối liên hệ ấy cũng xuất hiện trong cuộc khảo sát của những tư tưởng mới hơn, như John Henry Newman, Antonio Rosmini, Jacques Maritain, Etienne Gilson, Edith ở phương Tây; Vladimir S.Soloviev, Pavel A. Florensky, Petr Chaadaev, VladimirN. Lossky ở phương Đông.



v  Vấn đề 4: Những thể trạng khác nhau của triết học

Nhìn qua kịch sử giữa đức tin và triết học qua các thời đaị, ta có thể nhận ra được các thể trạng khác nhau của triết học trong lịch sử tương chiếu với đức tin Kitô giáo.

Thể trạng đầu tiên là tồn tại một nền triết học tồn tại độc lập với các mặc khải của Tin Mừng, độc lập với tôn giáo, được hình thành trong lịch sử trứơc khi Chúa Cứu Thế ra đờivà về sau trong những miền chưa biết đến tin Mừng. Các tư tưởng triết họ thời kì này bày tỏ nỗ lực tự phát của con người trong việc thể hiện ước vọng chính đáng của mình bằng lí trí như về sự thiện, sự ác, sự vĩnh cửu của linh hồn. Về sự lôi cuốn cảm nhận từ thế giới vô hình, về chân lí, về đức hạnh, cái đẹp của thân xác, của tâm hồn và lí tưởng, cũng như những nguyên lí về sự hoàn hảo… Những suy tư đó bị giới hạn bởi lí trí nhân loại mà chưa đem lại lời giải đáp thoả đáng cho tất cả những giá trị của chân lí tối thượng. Nền triết học này cũng đáng được trân trọng vì tuy chỉ đi tìm chân lí theo lối tự nhiên, nhưng trong những suy tư triết học luôn gợi mở và hướng đến những chân lí siêu nhiên. Không những thế, ngay cả trong thần học, người ta cũng gợi mở những suy tư triết lí nhằm bảo đảm những kết luận mang tính phổ quát, làm cho các hoạt động của thần học sinh hiệu quả hữu lí hơn.

Thể trạng thứ hai được mệnh danh là triết học Kitô giáo, nhưng không có nghĩa là thứ triết học chính thức của Giáo Hội, mà chỉ là danh xưng mang tính lịch sử. Đó chỉ là phương cách triết lí được kết hợp giữa đức tin và lí trí cách chặt chẽ, tích cực. Trong đó, các nhà tư tưởng Kitô giáo đã sử dụng đức tin của họ một cách minh nhiên, không phải như chứng cứ, nhưng như sách hướng dẫn cho sự tìm kiếm triết học của họ. Đức tin này đặt họ vào trong một bầu khí đặc biệt, bầu khí đạo Kitô, làm cho triết học của họ trở thành triết học Kitô giáo. Có thể nói rằng triết học Kitô giáo là một triết học đích thực, một công trình của lí trí như bao triết học khác và còn có một cơ may trở thành một triết học đích thực hơn. Cũng như mọi triết học khác, triết học Kitô giáo sẽ không bao giờ hoàn thành, mà nó là một phần của lịch sử triết học kéo dài suốt 16 thế kỉ. Nền triết học này được phong phú qua những đóng góp có ý nghĩa và đạt tới đỉnh điểm nơi Thánh Tôma Aquinô. Những đóng góp này hiện nay vẫn tồn tại và tầm quan trọng đến độ người ta không thể viết lịch sử triết học mà không nhắc đến nó. Nhưng khi nói tiết học Kitô giáo, người ta không đơn thuần chỉ nói đến một nền triết học được xây dựng bởi những triết gia Kitô giáo mà thụât ngữ “triết học Kitô giáo” muốn ám chỉ chung cho mọi công cuộc xây dựng nào thuộc loại suy tưởng triết lí đã được thành tựu nhờ sự đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp của đức tin Kitô giáo. Đức Lêô XIII nhận định : “những ai biết kết hợp việc nghiên cứu triết học với sự vâng phục đức tin, những người này sẽ tư duy tốt hơn, bởi vì ánh sáng chân lí thần linh khi thấm nhập tâm hồn họ sẽ hỗ trợ cho lí trí, không phải để cất đi những phẩm chất của lí trí, trái lại còn làm cho sự cao thượng, sự thấu hiểu và sự vững chắc của lí trí được triển nở nhiều hơn nữa”. Thật vậy, một triết gia Kitô giáo thì không coi triết học là sự khôn ngoan cao nhất mà con người có thể đạt tới, vì đức tin có thể đem đến một ánh sáng mới và những chân lí mà sự bất toàn và giới hạn của lí trí không thể đạt tới, hầu giải thoát lí trí khỏi tính kiêu căng mà các triết gia dễ mắc phải.

Thể trạng thứ ba là thần học cần nhờ đến triết học. Quả vậy, không phải ngẫu nhiên mà ngày nay trong các trường thần học người ta lại chú trọng đến việc học triết học, mà trước đây không có hoặc có thể bị coi là vô ích; hiện nay triết học được coi như một sự chuẩn bị để đón nhận đức tin và vì thế hữu ích cho việc học tập và nghiên cứu thần học. Ngược lại chân lí mặc khải chứa đựng trong thánh kinh được hiểu một cách lành mạnh theo giáo huấn của Giáo Hội, cũng chứa đựng một lí tính riêng, một lập luận chặt chẽ có thể đưa ra một nhận thức đích thực. Con người là một tổng thể, do đó không có sinh hoạt nào của đức tin mà không có sự tham gia của lí trí và ngược lại không có sự sinh hoạt nào của lí trí mà lại không có sự tham gia của đức tin. Vì trong một con người luôn tồn tại đức tin (thần học) và lí trí (tự nhiên) nên trong mặc khải cũng chứa đựng cả chân lí siêu nhiên và chân lí tự nhiên cần thiết cho ơn cứu độ. Ngoài ra, thần học cần tới triết học như người đối thoại để kiểm chứng tính khả niệm và chân lí phổ quát của những điều nó khẳng định. Không phải tình cờ mà các nhà thần học trung cổ đã vận dụng những nền triết học ngoài Kitô giáo. Sự kiện lịch sử này xác hận giá trị tính đậc lập của triết học vẫn không suy giảm khi thần học cậy nhờ tới nó, nhưng đồng thời cũng cho thấy những biến đổi sâu xa mà con người đã trải qua. Chính vì sự đóng góp cao quý và cần thiết của nó mà kể từ thời các Giáo Phụ, triết học đã được gọi là nữ tì của thần học. Danh từ này không có ý chỉ sự phục tùng nô lệ hay vai trò thuần tuý chức năng của triết học đối với thần học. Trái lại nó được sử dụng theo nghĩa mà Aristote hiểu khi ông nói tới các khoa học thực nghiệm như là những tì nữ phục vụ triết học đệ nhất (prima philosophia). Qua đó cho thấy sự gắn bó mật thiết trong tương quan giữa triết học và thần học.



v  Vấn đề 5: Chủ nghĩa hiện sinh – sự tách rời lí trí ra khỏi tinh thần

            Chủ nghĩa hiện sinh là từ dùng để nói về nghiên cứu của moat nhóm triết gia cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, những người mà tuy khác nhau về học thuyết nhưng có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người không chỉ là chủ thể tư duy mà là cá thể sống, cảm xúc và hoạt động. Trong chủ nghĩa hiện sinh, xuất phát điểm của cá nhân được đặc tả bởi cái từng được gọi là “thái độ hiện sinh” hay một tình trạng mất định hướng và bối rối khi đứng trước một thế giới có vẻ như vô nghĩa và phi lý. Nhiều nhà hiện sinh cũng đã coi triết học hàn lâm hoặc triết học hệ thống truyền thống, ở cả phong cách cũng như nội dung là quá trừu tượng và tách biệt khỏi trải nghiệm cụ thể của con người.

            Soren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche là hai nhà triết học được xem là nền tảng cho chủ nghĩa hiện sinh. Họ chú trọng vào những trải nghiệm chủ quan của con người hơn những chân lý khách quan của khoa học, cái mà họ coi rằng quá xa cách để hiệu được những trải nghiệm của con người. Giống như Pascal họ quan tâm đến cuộc đấu tranh thầm lặng của mỗi cá nhân với sự vô nghĩa của cuộc sống và việc sử dụng sự giải trí để tránh khỏi sự buồn chán. Không như Pascal, Kierkegaard  và Nietzsche còn xem xét vai trò của sự lựa chọn tự do, đặc biệt là về những giá trị và niềm tin căn bản và những lựa chọn đó thay đổi bản chất của người lựa chọn thế nào. Hiệp sĩ của niềm tin của Kierkegaard và siêu nhân của Nietzsche là những hình mẫu về những người tự mình định dạng bản chất của sự tồn tại của mình. Kierkegaard và Nietzsche hoàn toàn đối lập nhau trong vấn đề về sự tồn tại của Thượng đế và sau này chính hai ông đã mở đường cho hai nhánh triết học hiện sinh khác nhau: hữu thần (Kierkegaard) và vô thần (Nietzsche). Những cá nhân lý tưởng này tự tạo ra những giá trị cho chính bản thân họ. Kierkegaard và Nietzsche cũng là những tiền thân cho các phong trào triết học khác và tâm lý học. Thế kỷ 20 sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ nghĩa hiện sinh trở thành một phong trào triết học và văn hóa nổi tiếng, chủ yếu thông qua hai ngòi bút Pháp nổi tiếng: Jean Paul Sartre và Albert Camus. Họ viết những tiểu thuyết, vở kịch bài báo cũng như những tác phẩm chuyên ngành. Trong những năm này tác phẩm tồn tại và thời gian của Heigegger trở nên nổi tiếng ngoài nước Đức. Chủ nghĩa hiện sinh đã từng bước trở thành một trào lưu của triết học Châu Âu lục địa trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Đến cuối đệ nhị thế chiến, nó trở thành một phong trào được biết đến rộng rãi, đặc biệt qua danh tiếng và các tác phẩm của Jean Paul Sartre cùng một số tác giả khác ở Paris sau giải phóng. Các tác phẩm của họ chú trọng vào các chủ đề như: “nỗi sợ, sự buồn chán, sự lạc lõng trong xã hội, sự phi lý, tự do, cam kết và hư vô” như là nền tảng của sự hiện sinh con người. Walter Kaufmann miêu tả chủ nghĩa hiện sinh là “sự từ chối gia nhập bất cứ trường phái tư tưởng nào, sự bác bỏ rằng không có bất cứ niềm tin hay đặc biệt là hệ thống niềm tin nào thỏa đáng, và một sự thất vọng rõ rệt đối với triết học truyền thống vì nó bề nổi, hàn lâm, và xa cách với cuộc sống”. Kết quả quan trọng của sự tách rời lý trí ra khỏi phần còn lại của tinh thần chính là sự phát triển của khoa học, điều đã trở thành một trong những dấu hiệu đặc trưng của nền văn minh phương tây, và hành động xếp đặt trật tự xã hội càng lúc càng mang tính duy lý của con người. Theo các nhà hiện sinh, các thế lực chính của lịch sử kể từ thời kỳ phục hưng đã không ngừng tách con người ra khỏi cuộc sống trần thế buộc anh ta phải sống theo những tiêu chuẩn trừu tượng cao cả, tập thể hóa con người cá nhân, đưa thượng đế ra khỏi thiên đàng và trái tim của con người. Con người hiện đại đang sống trong tình trạng xung khắc: với thượng đế, với thiên nhiên, với người khác và với chính mình. Con người, vũ trụ vạn vật vốn được Thiên Chúa tạo dựng trong trật tự hòa hợp khi trở nên xung khắc với thực tại này, con người tự tách mình ra khỏi vị thế thống nhất mà Thiên Chúa thiết lập. Khi tự đặt chính mình làm thước đo mọi sự phủ nhận vai trò của đức tin, khước từ hoạt động của lý trí đồng nghĩa với việc của con người tự đặt mình vào ngõ cụt. Điều này được chứng minh qua tình trạng khủng hoảng và bế tắc của phần đông nhân loại ngày nay khi mà tình trạng này đã và đang trở thành một xu hướng thịnh hành lôi kéo phần đông một bộ phận nhân loại, đặc biệt giới trẻ. Họ trở nên lạc lõng, mất phương hướng trước thế giới hiện hữu và không tìm được điểm tựa chắc chắn cho thế giới tâm linh, từ đó đi đến các hành động tự diệt để giải thoát. 





  1. KẾT LUẬN

 Trên hành trình tìm kiếm, khám phá Mặc Khải, triết học đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết để hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu của thần học. Qủa thật, triết học là điểm gặp gỡ giữa các nền văn hoá va đức tin Kitô giáo, nơi hoà hợp giữa những người tin và không tin, là một trợ lực để người Kitô hữu xác tín cách thâm thuý hơn rằng, sự sâu sắc và tính xác thực của dức tin được cổ võ khi đức tin liên kết với một tư tưởng và không từ chối tư tưởng ấy. Thật vậy, trong hành trình tìm kiếm chân lí đến từ Thiên Chúa, đức tin và lí trí không ngừng hỗ trợ và bổ túc cho nhau. Trong đó, đức tin đóng vai trò then chốt hướng dẫn việc đón nhận và khai mở những giá trị chân lí và lí trí là người bạn đồng hành, trợ giúp và định hướng cho đức tin, cả hai tạo thành một sự liên kết chặt chẽ và hợp lí để đưa chân lí với nhân loại. “ Đức tin và lí trí ví được như đôi cánh giúp cho trí khôn con người vươn lên chiêm ngắm chân lí. Thiên Chúa đã đặt vào trái tim con người niềm khao khát được biết chân lí, tức là được biết chính Người, ngõ hầu một khi đã biết và yêu mến Thiên Chúa, con người cũng có thể biết được sự thật về chính mình”. Thế nhưng, ngày nay cả đức  tin và lí trí đang phải đương đầu với những vấn đề hết sức nghiêm trọng khi đứng trước một thế giới đang bị băng hoại, các giá trị siêu nhiên và luân lí đang bị thay thế bởi sự bành trướng của chủ nghĩa hiện sinh và các phong trào tục hóa, con người không còn nhìn nhận một Thiên Chúa là Đấng tạo dựng, không chấp nhận những chân lí khách quan mà chỉ đặt nền tảng cuộc đời trên nhân vị cá nhân chủ nghĩa. Khi không còn hướng đến chân lí vĩnh cửu, khi bóp chết lí lẽ của lương tâm, từ chối nhận thức khách quan của lí trí, con người trở nên mù lòa với các mặc khải của Thiên Chúa, nguồn gốc và cùng đích của mọi sự hiện hữu trên trần gian này. Đứng trước xu hướng lệch lạc ấy, thông điệp “ đức tin và lí trí” của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II là lời cảnh tỉnh và thúc giục con người trở lại khám phá và nhận ra tầm quan trọng của đức tin và lí trí đích thực quy hướng về các thực tại siêu nhiên. Thật vậy, với chủ đề chính được đề cập đến là “chân lí” Đức Thánh Cha như khơi dậy ý thức của con người, những kẻ “đi tìm chân lí” về khát vọng tìm về nguồn chân lí đích thực, chân lí được mặc khải qua sự nhận biết của đức tin với sự hỗ trợ của lí trí để chống lại và loại trừ chủ nghĩa tương đối vốn đẩy con người đến cuộc khủng hoảng ý nghĩa làm mất phương hướng và đe doạ hạnh phúc đích thực. Đối với người Kitô hữu nói chung, đặc biệt các Linh Mục, Tu Sĩ, chúng ta cần nhận thức đủ và đúng về ý nghĩa và tầm quan trọng  của đức tin và lí trí cũng như mối quan hệ tương hỗ giữa triết học và thần học để sở hữu được nguồn khai mở, nắm chính xác kim chỉ nam trên hành trình tìm kiếm chân lí.





























TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. ĐGH GIOAN PHAOLÔ II. Thông điệp” Đức tin và lí trí”. NXB TPHCM. 1997.
  2. LM GIOAKIM TRẦN VĂN HƯƠNG. “ Triết học nhập môn”. 2000.
  3. MARIANO ARTIGAS. “Nhập môn triết học”. PR Joseph Đỗ Ngọc Bảo,OP, chuyển ngữ.   
  4. VĨNH AN. “Lịch sử triết học Tây Phương”. NXB Trẻ. 2006.
  5. LM PIO PHAN VĂN TÌNH. “Triết học thượng cổ Tây Phương ảnh hưởng trên Kitô giáo”