nut

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

Sáng Thế

06/04/2009 13:15  |  1,469 lượt xem

PHẦN II
THIÊN CHÚA TẠO DỰNG VÀ HỨA BAN ƠN CỨU RỖI
THIÊN CHÚA TẠO DỰNG VŨ TRỤ VÀ LOÀI NGƯỜI
THIÊN CHÚA TẠO DỰNG VŨ TRỤ
Trong Thánh Kinh có hai bài tường thuật về Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ và con người ở đầu sách Sáng thế: St 1.1 - 2.4 và St 2.4-24. Theo giả thuyết này được các giới chú giải chấp nhận, hai bài tường thuật này thuộc hai truyền thống khác nhau và được ghi thành văn vào hai thời đại khác nhau.
St 1.1 – 2.4 thuộc truyền thống P, ghi thành văn vào thế kỷ X trước Công Nguyên.
Hai bài tường thuật này có màu sắc, thể văn và chi tiết khác nhau, nhưng cùng chứa đựng nhiều chân lý đức tin được diễn tả bằng những hình ảnh bình dân.
I.NHỮNG THẮC MẮC VỀ MẶT KHOA HỌC
1.Tuổi của vũ trụ và của trái đất
-Theo khoa học, người hiện đại xuất hiện trên trái đất cách đây chừng 50.000 năm, người tiền sử chừng 1 triệu năm, người vượn khoảng 30 triệu năm. Sự sống xuất hiện đã trên 2 tỷ năm. Chính trái đất đã hình thành trên 5.000 tỷ năm. Đây chưa kể vũ trụ đã xuất hiện trước trái đất rất lâu.
Còn đọc Kinh Thánh ta có cảm tưởng loài người đã xuất hiện gần đồng thời với vũ trụ cách đây vài nghìn năm thôi.
-Thực ra, Thánh Kinh không phải là sách khảo cứu khoa học, cũng không phải là một cuốn sử theo nghĩa hiện thời. Thánh Kinh theo đuổi một chủ đích khác, nhằm dạy chân lý tôn giáo. Để dạy những chân lý tôn giáo đó, người soạn Thánh kinh thường dùng sự hiểu biết về khoa học và lịch sử của thời đại mình. Những kiến thức này có thể đúng, cũng có thể sai, nhưng chân lý tôn giáo được diễn tả qua các kiến thức này thì không thể sai.
Các con số, niên biểu trong phần đầu của sách Sáng Thế có ý nghĩa tượng trưng. Khi mô tả sự hình thành của vũ trụ, của trái đất của con người theo quan niệm của thời xưa, Thánh Kinh chỉ muốn nhấn mạnh một chân lý tôn giáo bất dịch: Tất cả đều có khởi đầu, không có gì vĩnh cửu và tuyệt đối ngoài Thiên Chúa.
2.Thời gian sáng tạo.
-Theo khoa học, sự hình thành của vũ trụ và của trái đất là một quá trình tiến triển từng bước kéo dài trong bao nhiêu tỷ năm.
Còn Thánh Kinh phân bố việc Thiên Chúa tạo dựng mọi sự trong sáu ngày liên tiếp. Ngày thứ bảy thì công cuộc sáng tạo kết thúc và Thiên Chúa nghỉ ngơi.
-Nhiều người muốn dung hòa Thánh Kinh với khoa học bằng cách đưa ra giải thích: Mỗi ngày được nói trong Thánh Kinh tương đương với một thời đại địa chất…
Cắt nghĩa như vậy là gượng ép, vừa sai khoa học, vừa không đúng với ý định của Thánh Kinh. Thật ra, Thánh Kinh không quan tâm đến cách hình thành vũ trụ. Ở đây người soạn Thánh Kinh muốn dùng sự kiện Thiên Chúa tạo dựng vạn vật để dạy người Do Thái một bài học về ngày Hưu lễ (Sabbat). Theo luật Do Thái, dân chúng có sáu ngày để làm việc trong một tuần, còn ngày thứ bảy thì phải ngưng mọi hoạt động và dành ngày lễ nghỉ đó để thờ phượng Thiên Chúa. Muốn cho dân chúng tôn trọng ngày Hưu lễ, người soạn Thánh Kinh đã chủ tâm phân phối việc sáng tạo thanh sáu ngày và đặt ra việc Thiên Chúa nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy như là để làm gương cho dân chúng.
3.Cơ cấu của vũ trụ và thứ tự xuất hiện của vạn vật.
-Cách mô tả thế giới của Thánh Kinh dựa vào một vũ trụ quan lỗi thời, bị khoa học hiện đại phủ nhận. Hơn nữa, thứ tự xuất hiện của vạn vật không hợp lý, ví dụ ánh sáng xuất hiện sau, đã có sự sống và thực vật trước khi có ánh sáng. Mặt khác, cách mô tả của Thánh Kinh có vẻ nghiêng về thuyết định chủng: Thiên Chúa trực tiếp sáng tạo từng loài một, trong khi theo khoa học ngày nay thuyết tiến hóa hợp với các dữ kiện hơn.
-Vũ trụ này được cấu tạo như thế nào: Đó là một vấn đề khoa học mà Thánh Kinh không có ý giải quyết. Vũ trụ này bởi đâu: đó là một vấn đề tôn giáo. Thánh Kinh muốn soi sáng vấn đề này và giải đáp: toàn thể vũ trụ là tác phẩm của Thiên Chúa. Việc Thánh Kinh mô tả tác phẩm đó theo quan niệm thong thường của thời xưa là điều phụ thuộc.
Thứ tự xuất hiện của vạn vật cũng không quan trọng đối với Thánh Kinh. Điều quan trọng mà Thánh Kinh muốn dạy là tất cả mọi vật, không trừ vật nào, đều phát sinh bởi Thiên Chúa.
-Thuyết tiến hóa không nghịch với Thánh Kinh nếu nhìn nhận rằng yếu tố khởi nguyên từ đó sinh ra mọi vật khác là do Thiên Chúa tạo dựng và tiến hóa theo các định luật Ngài đã ấn định.

Thứ Bảy, 5 tháng 5, 2012

Ý nghĩa các loài hoa

THẾ GIỚI CỦA NHỮNG ĐIỀU KỲ THÚ: ý nghĩa của các loài hoa



Hoa SenThể hiện sự cung kính, tôn nghiêm. Hoa dành tặng cho Mẹ, chị gái hoặc người phụ nữ bạn tôn kính



Hoa Thủy VuMang ý nghĩa gia đình: "Sự trở về của hạnh phúc"

Hoa làiMang nghĩa "Tình bạn ngát hương", dành tặng cho người bạn gái thân


Hoa Cẩm Chướng"Tình bạn", hoa dành tặng cho bạn bè


Hoa Phong Lan"Với bạn tôi luôn luôn thành thật"


Hoa Tuy Lip"Lời tỏ bầy của tình yêu", hoa dành tặng cho người bạn gái khi bạn có ý ngỏ lời


Hoa Lilies (hay còn gọi là hoa huệ tây)
"Tình cảm tôi dành cho bạn luôn trong sáng và thật lòng"


Hoa Lưu Ly (hay còn gọi Hoa Forget Me Not)
"Xin đừng quên tôi"


Hoa Bát Tiên"Bạn là người vương giả, thanh cao, và kiêu hãnh "


Hoa thiết mộc lan"Bạn thật quý phái và lộng lẫy "


Hoa Trinh Nữ"E ấp, kín đáo"


Hoa TràCâu nhắc khéo: "Em nên dè dặt một chút."


Hoa Lay Ơn"Cuộc họp vui vẻ và lời hẹn cho ngày mai."


Hoa Hải ĐườngCâu hỏi: "Sao bạn lại thờ ơ, lạnh lùng ..?."


Hoa Đồng TiềnLời chúc mừng "Niềm tin của em đã đạt được."


Hoa Mimosa"Tình yêu mới chớm nở." Hoa dành tặng cho bạn trẻ mới yêu



Hoa Tường Vi HồngThông điêp: "Anh yêu em mãi mãi"


Hoa Kim NgânThông điệp: "Tôi sẽ là người bạn trung thành"


Hoa Phù DungLời an ủi: "Hồng nhan bạc phận"


Hoa Oải Hương"Sự ngờ vực" Nhắc khéo khi bạn thấy nghi ngờ một điều gì đó


Hoa Hồng Tỉ Muội"Em là một đứa em ngoan", hoa dành tặng em gái của anh trai hoặc một lời từ chối tình yêu khéo léo


Hoa Hồng Đỏ"Tình yêu say đắm và nồng nhiệt"


Hoa Hồng Kem"Em là người con gái duyên dáng và dịu dàng."


Hoa Hồng PhấnLời cảm ơn: "Anh cảm ơn em đã cũng anh trên con đường phía trước"


Hoa Hồng Vàng"Một tình yêu kiêu sa và rực rỡ."


Hoa Hướng Dương"Bạn là niềm tin và hy vọng của tôi"


Hoa Dạ Lan HươngTình bạn "Thật vui, khi tôi được làm bạn của bạn

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Tâm Lý Học

CÁC HOẠT ĐỘNG TÂM LÝ CẦN THIẾT VÀ QUAN TRỌNG TRONG CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI

?&@
Mai Thị Huyền Trinh- Liên Dòng MTG PhaoLô Nguyễn Văn Bình

       I.            Dẫn Nhập
Thế giới ngày nay đang ở đỉnh cao của thành công với những phát minh khoa học kỹ thuật tiến bộ, những ngành khoa học du lịch vũ trụ, điện tử, truyền thông,.. thế nhưng tình trạng thất nghiệp, sự chênh lệch giàu nghèo, những tệ nạn xã hội,…cứ liên tiếp xảy ra trong đời sống hằng ngày của con người từ đó dẫn đến tình trạng ức chế, lo lắng, dằn vặt trong chính tiềm thức của con người. Nhờ đó mà các ngành tâm lý phát triển để nghiên cứu, khám phá cũng như tìm ra các giải pháp để giúp con người định hướng cuộc sống cũng như tạo nên các mối quan hệ xã hội tốt hơn. Bên cạnh đó các hoạt động tâm lý về nhận thức cảm tính, trạng thái tâm lý tình cảm giữ vai trò quan trọng trong các mối quan hệ xã hội, để biết rõ hơn chúng ta lần lượt tìm hiểu các hoạt động tâm lý cần thiết và quan trọng trong các mối quan hệ xã hội. Để đi sâu vào các hoạt động tâm lý trước hết chúng ta cần sơ lược qua khái niệm tâm lý là gì? Đồng thời cũng tìm hiểu vai trò của ngành tâm lý học đối với các mối quan hệ xã hội.
    II.            Nội Dung
1.      Tâm lý là gì?
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta vẫn nghe nhắc nhiều đến từ tâm lý. Với cách hiểu thông thường và dừng lại ở mức phổ thông. Ta có thể hiểu: tâm lý là một từ chung để nói về những người có sự hiểu về lòng người, về tâm tư tình cảm của người khác. Thế giới tâm lý của con người vô cùng kỳ diệu và phức tạp, nó bao hàm nhiều hiện tượng đa dạng, phong phú từ cảm giác, tư duy cho đến tình cảm, ý chí của con người.
Quá trình nghiên cứu các vấn đề trên đã dần hình thành nên một ngành khoa học mới đó là ngành tâm lý học. Vậy trên cơ sở là một môn khoa học. Ta cần hiểu tâm lý là gì?
Tâm lý là khoa học nghiên cứu về các hiện tượng tâm lý, các quy luật phát triển của các hiện tượng tâm lý trong hoạt động đa dạng diễn ra hằng ngày của mỗi con người, là khoa học vì các kết luận của nó dựa trên những kết quả thu được theo các nguyên tắc của các phương pháp khoa học (Nguyễn Thị Thùy Trâm, Giáo Trình Tâm Lý Đại Cương).
Từ định nghĩa trên ta nhận thấy được tầm quan trọng của tâm lý đối với con người, từ các mối quan hệ sinh hoạt hằng ngày đến các quan hệ xã hội, muốn nhận ra rõ tầm quan trọng ấy chúng ta cần phải hiểu vai trò của tâm lý đối với các quan hệ xã hội, để qua đó đời sống cũng như các mối quan hệ của chúng ta được trở nên tốt hơn.
2.      Vai trò của tâm lý đối với các mối quan hệ xã hội
Muốn tìm hiểu vai trò của tâm lý trong các mối quan hệ xã hội trước hết chúng ta phải hiểu, quan hệ xã hội là gì?
Quan hệ xã hội  là những quan hệ giữa người với người được hình thành trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, văn hóa,…  Mọi sự vật và hiện tượng trong xã hội đều có những mối liên hệ với nhau.
Có lẽ hầu hết chúng ta ai cũng nhận thấy rằng trong các mối quan hệ xã hội, với một tâm lý nặng nề sẽ khiến chất lượng của công việc, cũng như tạo các mối tương quan với nhau trở nên khó khăn. Thế nhưng điều đáng lo ngại hơn nữa là xã hội ngày một tiến bộ mà trạng thái tâm lý con người ngày một bị khủng hoảng: họ sợ đứng trước đám đông, sợ thất bại, sợ bị từ chối, sợ thay đổi, sợ luân chuyển, sợ không cân bằng được công việc và cuộc sống, sợ đổi ngành,…(Dantri, Truy cập trang wel:thttp://www.khoinghiep.info/danh-cho-sinh-vien/can-chuan-bi-nhung-gi/5076-nhung-noi-so-q-ngang-duong-q-su-nghiep-cua-ban.html).
Không chỉ thế, mà bất cứ công việc gì, ngay cả các mối quan hệ xã hội thì vấn đề tâm lý đóng vai trò vô cùng quan trọng. Một tâm lý thoải mái, không bị áp lực, không sợ hãi sẽ khiến con người trở nên hoạt bát, biết xử lý trong mọi tình huống, từ đó mang lại hiệu quả tốt trong các mối quan hệ xã hội. Trong công việc một tâm lý tốt, vững vàng và thoải mái sẽ giúp cho công việc thành công hơn, tạo được thiện cảm với mọi người, duy trì các mối quan hệ xã hội. Qua đó, vai trò của tâm lý rất quan trọng và cần thiết trong các mối quan hệ xã hội vì nhờ có tâm lý con người tìm hiểu những yếu tố khách quan, chủ quan giúp con người nhận thức và cải tạo chính mình, điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế đặc biệt là làm cho mối tương quan giữa người với người trở nên tốt hơn, với một tâm lý thoải mái tạo nên một thể xác khỏe mạnh cũng làm tăng năng xuất lao động. Bên cạnh đó, tâm lý còn giúp cho con người nhận biết đâu là tốt đâu là xấu qua các hoạt động tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tình cảm, ý chí, các quá trình cảm xúc,… để giúp cho đời sống cũng như các mối quan hệ xã hội trở nên tốt hơn. Do đó, chúng ta cùng tìm hiểu một số hoạt động tâm lý cần thiết trong các mối quan hệ xã hội.
3.      Các hoạt động tâm lý cần thiết
Trước tiên là nhận thức cảm tính, nhận thức cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên bao gồm cảm giác và tri giác.
3.1  Nhận thức cảm giác
Mỗi sự vật hiện tượng chung quanh ta có hàng loạt thuộc tính bề ngoài liên quan chặt chẽ với nhau như: màu sắc (xanh, đỏ, tím, vàng,…), kích thước (cao, thấp, vuông, tròn,…), trọng lượng (nặng, nhẹ,…) khối lượng (to, nhỏ, nhiều, ít,…), tính chất (nóng, lạnh, đắng, cay,…). Những tính chất đó được bộ não của chúng ta phản ánh nhờ vào cảm giác.
Cảm giác là giai đoạn đầu tiên của nhận thức con người, và là điều kiện quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt động của vỏ não, nhờ đó hoạt động tinh thần của con người được hình thành (giúp con người cơ hội làm giàu tâm hồn, thưởng thức thế giới kỳ diệu chung quanh ta).
Cảm giác là một quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẽ từng thuộc tính bề ngoài trực tiếp tác động vào các giác quan của con người. Ví dụ: cắn quả ớt ta thấy cay. Ta đụng vào một vật nhọn thấy đau. Cằm nước đá thấy lạnh,…
Trong quan hệ xã hội cảm giác của con người được phát triển mạnh mẽ như trong lĩnh vực sản xuất: người chế tạo ra máy lạnh giúp cho mọi người có cảm giác mát mẻ vào những mùa hè nóng bứt. Hay trong chế biến thức ăn người đầu bếp nấu những món ăn ngon như: rau muống xào tởi, cá lóc kho tộ,… giúp cho người ăn cảm nhận được vị ngon của từng món ăn. Hay một ví dụ tiêu cực về đời sống tu trì chẳng hạn như: chị Mai và chị Thảo đang nói chuyện nhỏ to với nhau (không biết là chuyện gì?) nhưng ánh mắt cứ nhìn chị Hà làm cho chị Hà có cảm giác như hai chị đó đang nói xấu mình, đăm ra nghi vấn, hiểu lầm nhau làm cho đời sống trở nên ngột ngạt. v.v…
Trong nhận thức nói chung và trong các quan hệ xã hội nói riêng cảm giác giữ vai trò quan trọng, vì cảm giác đóng vai trò chỉ dẫn, bảo cho biết cái gì có lợi hay bất lợi cho cơ thể. Cảm giác còn là con đường nhận thức môi trường xung quanh, đặc biệt quan trong với những người bị khuyết tật. Những người mù, câm, điếc đã nhận ra người thân và hàng loạt đồ vật nhờ cảm giác. Vì một giác quan bị khiếm khuyết các cảm giác có nguồn gốc từ các giác quan đó sẽ bị giảm hoặc mất đi, khi đó các cơ quan cảm giác khác sẽ bù trừ bằng cách thay thế hoặc tăng độ nhạy cảm.
Nhìn chung, trong các mối quan hệ xã hội cảm giác giúp con người nhận biết, tiếp xúc các giác quan với môi trường chung quanh, từ đó giúp con người gắn kết với nhau, tạo thiện cảm với nhau trong các công tác xã hội cũng như là trong đời sống hằng ngày. Trong các mối quan hệ không chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức cảm giác mà thôi, tiến xa hơn đó là quá trình nhận thức tri giác.
3.2  Nhận thức tri giác
Nhờ có cảm giác mà các thuộc tính riêng lẻ của sự vật (ánh sáng, âm thanh, hình dáng,…) được phản ánh trên vỏ não. Nhưng trong thực tế sự phản ánh ấy không chỉ dừng lại ở từng thuộc tính riêng lẻ, mà gần như những thuộc tính riêng lẻ ấy được vỏ não chúng ta phản ánh, đồng thời đưa lại cho chúng ta một hình ảnh mang tính chất trọn vẹn của sự vật, hiện tượng đó là hình ảnh tri giác.
Tri giác là sự phản ánh cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan. Chẳng hạn về vấn đề học tập, trong một kỳ thi Giáo viên đọc câu hỏi người học sinh tiếp thu một cách trọn vẹn vào trong giác quan nhờ đó người học sinh hiểu bài và làm bài tốt.
Như vậy, tri giác là thành phần chính trong nhận thức cảm tính của con người, là quá trình tích cực, gắn liền với việc giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của con người. Ví dụ: trong hoạt động pháp luật. Hai cảnh sát viên Trung và Nhân đang điều tra một phi vụ giết người, với các dấu vết tìm thấy ở hiện trường vụ án, hai cảnh sát viên tình nghi được thủ phạm. Từ nhận thức được những thuộc tính bên ngoài của hiện trường vụ án họ cùng điều tra và tìm ra chứng cứ đưa hung thủ ra trước pháp luật để trị tội. Qua ví dụ trên cho chúng ta một khẳng định rằng, trong cuộc sống những hình ảnh cũng như một số trực giác của tri giác thực hiện chức năng là vật điều chỉnh các hoạt động. Đồng thời cần nhận thức chính xác mới có thể biết và quyết định chính xác. Đồng thời trong quá trình tri giác, hình ảnh tri giác không chỉ phụ thuộc vào chính đối tượng đang được tri giác mà còn phụ thuộc vào một số yếu tố thuộc về chủ thể của tri giác như: xu hướng của chủ thể, động cơ, hứng thú, kinh nghiệm, điều kiện cơ thể, nhân tố xã hội,… Do đó, trong các quan hệ xã hội tri giác giúp con người định hướng điều chỉnh hành vi và hoạt động của mình trong đời sống cũng như là nhận thức tri giác về hình dáng, độ lớn, vị trí, độ xa và phương hướng của các sự vật đang tồn tại trong không gian, thời gian.
Ngoài ra tri giác còn sử dụng dữ liệu trực quan do cảm giác mang lại đồng thời sử dụng cả các kinh nghiệm đã học được trong quá khứ để có những hình ảnh của sự vật một cách trọn vẹn được gợi lên qua sự vật. Ví dụ: Trong vấn đề giao tiếp: một Giám đốc công ty xây dựng đầu tư cho một công trình lớn, hằng ngày Giám đốc phải tiếp xúc và giao lưu với rất nhiều người, trong một lần tình cờ Giám Đốc gặp lại một người nhưng không nhớ ra đó là ai. Nhờ tính trọn vẹn và tính lựa chọn của tri giác giúp Giám đốc nhớ lại khi quan sát đối tượng ở từng khía cạnh của bối cảnh, từ đó Giám Đốc đưa ra một kết quả cuối cùng là nhận ra Anh Nhân là người đã thầu công trình tòa nhà đô thị khoảng 5 năm về trước. Như vậy, tri giác giúp chúng ta nhận biết đối tượng như một toàn thể có tổ chức, chứ không phải là tập hợp các yếu tố rời rạc. Bên cạnh đó tính lựa chọn còn tùy thuộc vào chủ quan tri giác như: kinh nghiệm, hứng thú.
Như vậy, qua quá trình nhận thức tri giác con người nhận biết cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài để tổ hợp, diễn giải, gán ý cho các thông tin đó. Trong các mối quan hệ xã hội để phát huy hết khả năng nhận thức con người không chỉ chú trọng đến nhận thức cảm tính mà còn thể hiện rõ tình cảm của mình đối với những người chúng ta tiếp xúc.
3.3  Tình cảm
Trong các mối quan hệ xã hội không chỉ dừng lại ở nhận thức cảm tính mà bên cạnh đó con người phải có thái độ thể hiện sự rung cảm đối với sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ đó là trạng thái tâm lý tình cảm. Ví dụ: Thấy một người hành khất quần áo tả tơi, ta thấy hình ảnh như vậy cảm thấy xót xa, thương cảm và động lòng trắc ẩn. Ngày nay đất nước chúng ta đang phát triển nhưng người nghèo chung quanh chúng ta rất nhiều, họ không nhà không cơm ăn, áo mặc,.. khi thấy những hình ảnh như thế ta cảm thấy thương họ, thương cho cảnh đời bơ vơ lầm than. Đồng thời chúng ta cũng tạ ơn vì cuộc sống của ta không đến nổi thiếu thốn, cũng như cho họ một chút gì đó để tỏ lòng thương cảm. Hay trong tình yêu đôi lứa, khi mới gặp nhau lần đầu tiên hai người cảm thấy rung động, xao xuyến, có một chút gì đó nhớ nhớ thương thương, rồi từ đó họ trao dối tình cảm và cùng nhau nếm hưởng mùi vị ngọt ngào của tình yêu.
Như thế, trong các mối quan hệ tình cảm là một gốc của nghệ thuật, là chất liệu của sáng tác nên những bài tình ca trong các lĩnh vực khi giao tiếp và để cảm thụ nghệ thuật cuộc sống này. Ví dụ: Trung là một học sinh giỏi cua trường THCS Chu Văn An, Trung là người hiền lành, học giỏi nhưng lại rất nhát. Vì vậy, Trung rất ít tiếp xúc với người khác, và điều đặc biệt hơn nữa là Trung đem lòng yêu một cô bạn nhỏ hơn mình một tuổi (học cùng trường), vì do cô bạn đó rất xinh gái vì sợ mất người mình yêu nên Trung đã trau chuốc thân hình của mình, ăn mặc bảnh trai hơn, và đặc biệt là Trung trở nên cam đảm không còn nhút nhát để chinh phục trái tim của người mình yêu. Qua ví dụ trên cho chúng ta một nhận định rằng chỉ cần biết rung cảm trước một đối tượng nào đó họ sẽ trở nên khác hơn, có khi trở nên mù quáng do không đạt được tình yêu. Ngày nay, trên phát thanh truyền hình, radio, có chuyên mục tư vấn tâm lý về tình yêu, hôn nhân gia đình như vậy đối với xã hội ngày hôm nay các nghiên cứu về tâm lý giúp cho cuộc sống cũng như giải tỏa những vấn đề tình cảm của con người rất nhiều. Bên cạnh đó, trong các mối quan hệ tình cảm còn là điểm mạnh cũng như điểm yếu nhất của con người khi tương quan với nhau. Nó có thể làm tăng khả năng hoạt động nhưng nó có thể làm cho con người trở nên bạc nhược, chán nản. Có thể lấy rất nhiều ví dụ chứng minh vấn đề này như: Tôi và anh đều có năng lực như nhau về sự phát triển trí tuệ nhưng xu hướng của tôi khác xu hướng của anh, từ đó tôi và anh sẽ có cách lựa chọn nghề nghiệp khác nhau. Từ ví dụ này cho thấy, việc chọn nghề hiện nay của thanh niên chúng ta đôi lúc còn mang tính cảm tính, nhiều em không xem xét năng lực, hứng thú của mình mà chỉ chạy theo “mốt”, theo những công việc mà cảm tính mách bảo là sành điệu, sẽ dễ hái ra tiền hoặc đôi khi chỉ dựa hoàn toàn vào sự định hướng thực dụng của bố mẹ mà không quan tâm thực sự con mình hợp với công việc nào, hứng thú của các em ra sao… một ví dụ khác: xem xong một cuốn phim, tôi có thể cảm động đến rơi nước mắt nhưng anh lại cảm thấy hoàn toàn dửng dưng; anh có thể cảm thấy tức đến nghẹt thở trước những hành động vô văn hoá của kẻ khác nhưng với tôi điều đó là quá bình thường…
Tóm lại, trong các mối quan hệ xã hội tình cảm giữ vai trò của khá quan trong đối với sinh lý, tình cảm bảo đảm sự tồn tại bình thường đối với nhận thức, mà tình cảm tích cực làm tăng hiệu quả của nhận thức, là động lực để con người khắc phục những khó khăn, vượt qua mọi trở ngại trong cuộc sống, sự thành công của con người phụ thuộc nhiều vào đời sống tình cảm của họ.
 III.            Kết luận
Tóm lại, qua các nghiên cứu và khảo sát của ngành tâm lý học để tìm hiểu các bản chất tâm lý con người, về nhận thức cảm giác, nhận thức tri giác, trạng thái tâm lý tình cảm, để  con người làm giàu kiến thức về sự hiểu biết nhờ vào các hoạt động tâm lý được hình thành trong các mối quan hệ xã hội để đáp ứng nhu cầu về sự hiểu biết, dự đoán, tăng thêm phương pháp suy nghĩ sự thành công của cá nhân và xã hội chính là nhờ các hoạt động tâm lý.
Trong thực tế của đời sống, các hoạt động tâm lý giúp con người thể hiện rõ khả năng tư duy, tính lựa chọn, tính trọn vẹn, khả năng đánh giá cũng như phân biệt tốt xấu, trường hợp nào đúng trường hợp nào sai,… trong các mối quan hệ xã hội. Tuy nhiên qua các hoạt động tâm lý cũng còn nhiều mặt hạn chế do con người ngày nay vô cảm trước nỗi đau khổ của đồng loại, nhất là điều đó đang len lỏi vào trong giới trẻ (tình cảm), hay chỉ bằng mặt mà không bằng lòng (nhận thức cảm tính). Vì vậy để áp dụng vào trong cuộc sống con người cần nắm rõ các hoạt động tâm lý cũng như là cách vận hành của nó để áp dụng vào trong cuộc sống.

DANH MỤC THAM KHẢO

?V@

1.      NGUYỄN THỊ THÙY TRÂM, Giáo Trình Tâm Lý Đại Cương.
2.      DANTRI, Truy cập trang wel:thttp://www.khoinghiep.info/danh-cho-sinh-vien/can-chuan-bi-nhung-gi/5076-nhung-noi-so-q-ngang-duong-q-su-nghiep-cua-ban.html).
3.      VŨ GIA HIỀN, Tâm Lý Học và Chuẩn Hành Vi, Nxb Lao Động, 4/2/2005.










                                                                                                               

Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012

Vai trò và vị trí của người Giáo Dân trong lịch sử

VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN TRONG LỊCH SỬ GIÁO HỘI

&
Mai Thị Huyền Trinh – Liên Dòng MTG Phaolô Nguyễn văn Bình

DẪN NHẬP
Trải qua nhiều thập kỷ, hình ảnh người giáo dân thường bị lãng quên.Vị trí và vai trò của người giáo dân không mấy được quan tâm. Nhưng với lăng kính của công đồng Vanticanô II hình ảnh người giáo dân được chú trọng hơn, không chỉ có thế với sứ điệp của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới[1] hợp tại Đại Hàn đã gọi kỷ nguyên của chúng ta đang sống là “kỷ nguyên của giáo dân” cùng với các sắc lệnh[2], các tông huấn để đề cao vai trò người giáo dân. Vậy người giáo dân là ai? mà được nhắc đến nhiều như thế trong Giáo Hội. Họ là thành phần dân chúa, là những chi thể sống động của thân mình Đức Kitô và tìm được “căn tính” mà Chúa Kitô đã dành cho những ai tin theo Ngài và sát nhập với Ngài qua bí tích Thánh Tẩy. Ðối với Giáo hội Công giáo, Công đồng Vatican II xuất hiện như một mùa xuân, sau những mùa đông giá lạnh và kéo dài nhiều thế kỷ. Sự đóng góp của Công Đồng cho Giáo Hội không phải chỉ nằm ở những bản văn, mà là đã khai mở một hướng đi mới và một cái nhìn khác về mối tương quan giữa Giáo Hội với thế giới. Để tìm hiểu rõ hơn về vị trí và vai trò của người giáo dân trong Giáo Hội dưới ánh sáng của công đồng VanticanôII, cũng như trong thế giới hôm nay nhất là về chính ơn gọi và môi trường hoạt động tông đồ của người giáo dân chúng ta lần lượt tìm hiểu:
1.      Ơn gọi và vai trò của Giáo Dân dưới ánh sáng Công Đồng Vanticano II
Nhìn lại lịch sử Giáo Hội, nhất là công đồng Vanticanô I, hình ảnh người giáo dân bị lu mờ đi với cấu trúc là mô hình kim tự tháp. Về nội dung, ta thấy quá nhấn mạnh đến yếu tố pháp lí, đầy giáo sĩ tính, nhưng lại gạt bỏ vai trò của người giáo dân. Nhưng dưới lăng kính Công Đồng Vanticanô II với hiến chế tín lý về Giáo Hội và sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân đã mạnh mẽ nêu lên vấn đề giáo dân, cũng như đề cập đến ơn gọi, địa vị và trách nhiệm của người giáo dân. Như vậy, Công đồng đã tái khẳng định ý nghĩa sự hiệp thông trong niềm tin, không những bằng cách nhắc lại rằng Giáo Hội là Dân Thiên Chúa được kết hợp trong một Giao ước mới và được ký kết bằng chính máu của Ðức Kitô. Ðiều độc đáo hơn nữa, mọi thành viên của cộng đồng Dân Chúa, được thiết lập nhờ cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Ðức Kitô, tất cả đều tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của chính Ðức Kitô[3]. Bởi vì “chỉ có một Chúa, một niềm tin, một Phép Rửa” (Ep 4,5).
Thế nên trong Giáo Hội có nhiều tác vụ khác nhau nhưng đều cùng chung một sứ mệnh. Chúa Kitô đã trao phó cho các Tông Ðồ và những người kế vị các Ngài nhiệm vụ nhân danh và lấy quyền Người mà giảng dạy, thánh hóa và cai quản. Còn phần giáo dân, vì họ tham dự thực sự vào nhiệm vụ Tư Tế, Tiên Tri và Vương Đế của Chúa Kitô, nên họ chu toàn phần việc của mình trong sứ mệnh của toàn dân. Thiên Chúa trong Giáo Hội và ở giữa trần gian. Cụ thể là người giáo dân, thi hành sứ mạng tông đồ của mình bằng những hoạt động nhằm loan báo Tin Mừng, thánh hóa nhân loại đặc biệt bằng chính đời sống Kitô hữu của mình, nhằm làm cho “Tin Mừng lan rộng khắp nơi”. Không chỉ thế, công đồng Vanticanô II khẳng định sự bình đẳng về phẩm giá giữa mọi thành phần dân Chúa “chúng ta tuy nhiều người, nhưng chỉ là một trong Đức Kitô, ai tùy phận nấy mà làm chi thể lẫn cho nhau” (Rm 12, 4-5). Đây cũng là động lực giúp người giáo dân chu toàn sứ vụ của mình. Các chi thể cũng cùng chung một phẩm giá nhờ được tái sinh trong Đức Kitô, cùng được ơn huệ của kẻ làm con Chúa, cùng được chung một ơn kêu gọi trở nên trọn lành, cùng một ơn cứu độ, cùng một niềm hi vọng, cùng một tình thương không có phân chia … xét về phẩm giá và hoạt động mà mọi tín hữu đều phải thực hiện để xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô, thì tất cả mọi Kitô hữu đều ngang hàng nhau[4].
Công đồng đặc biệt đề cao “tính trần thế” và sứ vụ dấn thân vào lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị của người giáo dân. Họ là những người tín hữu đang dấn thân vào những sinh hoạt trần thế với mọi người, như mọi người, trong tương giao nghề nghiệp, văn hóa, xã hội và tình bằng hữu. Mảnh đất nhân bản và sinh hoạt trần thế phải là môi trường riêng biệt, nơi người giáo dân thực hiện sứ mệnh làm người và lý tưởng Kitô hữu của mình. Ðây chính là môi trường Thiên Chúa gọi họ sống lý tưởng Tin Mừng và bằng chính cuộc sống chứng tá của mình để biến đổi cuộc đời từ bên trong, theo lý tưởng men trong bột. Họ phải sống giữa trần gian và dấn thân vào tất cả mọi sinh hoạt trần thế với ý hướng biến đổi và thánh hoá môi trường sống đó từ bên trong. Nói cách khác, “Giáo dân được đặc biệt mời gọi giúp Giáo hội hiện diện và hoạt động trong tất cả những nơi và tất cả hoàn cảnh mà Giáo hội chỉ có thể trở thành muối trần gian nhờ sự trung gian của giáo dân”[5].
Bên cạnh đó, người giáo dân cần phải đốt nóng ngọn lửa tình yêu bằng việc sống, kết hợp với Chúa Kitô qua Thánh Lễ, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể vì “Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu”[6], xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn quan trọng hơn hết là năng đọc Lời Chúa, sống Lời của Ngài và đó là tâm điểm của công cuộc truyền giáo. Ngoài ra người Giáo Dân cũng cần phải lắng nghe các vị Chủ Chăn trong Giáo Hội để các Ngài hướng dẫn, khích lệ động viên giúp cho công cuộc loan báo Tin Mừng được sinh hoa kết quả và nhất là thực hiện sứ mạng mà Đức Kitô đã trao “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15). Theo Công Đồng Vanticanô II người Giáo Dân cần phải đem hết tâm lực để phục vụ cho Giáo Hội, cho Nước Chúa. Tâm lực của người giáo dân mang nhiều sắc thái đặc biệt, tùy hoàn cảnh của mỗi đời sống: đời sống vợ chồng và đời sống gia đình, đời sống độc thân và đời sống góa bụa, theo tình trạng đau yếu, tùy sinh hoạt nghề nghiệp và sinh hoạt xã hội[7]. Như vậy mỗi người mỗi hoàn cảnh nhưng có chung một hướng tới là chu toàn ơn gọi của mình trong môi trường sống.
Tóm lại dưới lăng kính của Công Đồng Vanticanô II hình ảnh người giáo dân được biết đến nhiều hơn trong vai trò và chiếm một vị trí quan trọng trong việc tái Phúc Âm hóa.
2.      Môi trường hoạt động tông đồ của Giáo Dân

v  Môi trường Gia đình
Ngay từ khi tạo dựng Thiên Chúa đã thiết lập Bí Tích Hôn Phối để những ai sống đời hôn nhân được múc lấy từ nơi Ngài nguồn mạch ân sủng để có thể sống kế hoạch này một cách tốt lành và thánh thiện hơn. Vì là hình ảnh và được thông dự vào giao ước tình yêu của Đức Kitô và của Giáo Hội. Trong chiều hướng ấy chúng ta nhận ra được căn tính của Hôn Nhân Kitô giáo như một sự nối tiếp tình yêu của Đức Kitô trong lịch sử và căn tính của gia đình như là nơi sống hiệp thông phát sinh từ tình yêu, thì cần phải nói đến sứ mạng của vợ chồng.
Hôn nhân dẫn đưa hai người đến sự kết hợp các yếu tố tâm nhân linh để qua đó, hai người yêu nhau trao hiến cho nhau và từ đó tình yêu được lớn lên và trọn vẹn vì Đức Kitô là tâm điểm của tình yêu[8]. Không chỉ thế, hôn nhân còn là sự hiệp thông thường hằng trong cuộc sống và trong công việc đón nhận con cái khởi đầu cho cộng đồng gia đình. Chỉ nơi đó, tình yêu mới thật sự đôm bông và sự sống phát sinh từ tình yêu đôi bạn không ngừng tăng trưởng nhờ tình yêu của mọi người trong gia đình.
Gia đình không những là dấu hiệu sống động của tình yêu Đức Kitô mà còn là dấu chỉ và hình ảnh của sự hiệp thông tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần. Nếu đó là căn tính của gia đình thì sứ mạng của gia đình là gìn giữ, Mặc khải và thông truyền tình yêu ấy qua việc đào tạo một cộng đồng các ngôi vị. Do đó, gia đình được xây dựng và sống động nhờ tình yêu là một cộng đồng các ngôi vị của người chồng người vợ, của cha mẹ và con cái nên bổn phận đầu tiên là phải sống cách trung thành chính thực tại của sự hiệp thông và mỗi người thể hiện khả năng của mình để làm phát triển một cộng đồng đích thực của ngôi vị. Không chỉ dừng lại ở đó gia đình còn bổn phận là thông truyền sự sống, thực hiện trong suốt dòng lịch sử công trình sáng tạo của Thiên Chúa bằng việc truyền sinh. Gia đình là hình ảnh thiên chúa được tiếp tục qua các thế hệ và gìn giữ hình ảnh ấy bằng việc giáo dục nhân bản, giáo dục cho con cái đức tin mà Cha mẹ đã lãnh nhận và gia nhập vào Giáo hội như công đồng Vanticanô II đã dạy: “nền giáo dục Kitô giáo không chỉ nhằm giúp con người trưởng thành… nhưng cốt yếu là nhằm giúp những người đã rửa tội ngày càng ý thức hơn về hồng ân đức tin đã nhận lãnh trong khi họ được hướng dẫn để dần dần hiểu biết mầu nhiệm cứu rỗi”[9]. Thật vậy Cha Mẹ trước tiên rao giảng đức tin cho con cái và giáo dục đức tin của chúng bằng lời nói và gương sáng. “Họ huấn luyện cho chúng biết sống đời sống tông đồ của người tín hữu và đời sống tông đồ. Họ khôn khéo giúp cho chúng biết lựa chọn hướng đi của cuộc đời chúng và nếu biết chúng có ơn thiên triệu họ sẽ tận tình nâng đỡ chúng”[10], nhờ đó các thành viên trong gia đình được tham dự vào cuộc sống, cũng như giúp góp phần phát triển xã hội, giáo hội qua các việc tông đồ của gia đình như nhận làm con những đứa trẻ bị bỏ rơi, ân cần tiếp đón những khách lạ, cộng tác với nhà trường khuyên bảo và giúp đỡ thanh thiếu niên, giúp những người đã đính hôn chuẩn bị cho việc hôn nhân của họ được tốt đẹp, giúp dạy giáo lý, nâng đỡ những đôi vợ chồng cũng như những gia đình khi gặp khó khăn về vật chất cũng như tinh thần, lo cho người già cả, neo đơn cũng như cung cấp cho họ một số đồ dùng cần thiết[11].
Vì vậy, gia đình làm nên cái nôi và phương tiện hữu hiệu nhất để nhân bản hóa và ngôi vị hóa xã hội[12]. Chính nơi mảnh đất gia đình người giáo dân cần phải vun trồng, trao ban, chia sẽ tình yêu của Đức Kitô cho nhau, cũng như làm cho tình yêu ấy lan rộng khắp nơi, nhất là qua đời sống của gia đình sẽ gieo vãi hạt giống Lời Chúa cho hết thảy mọi người.
v  Môi trường xã hội
Môi trường hoạt động tông đồ của người giáo dân trong xã hội là làm sao đem tinh thần chúa Kitô thấm nhuần tâm trạng và phong tục, luật pháp và cơ cấu của cộng đoàn, nơi mỗi người sống (Piô XI). Đó là mỗi người giáo dân hãy làm chứng cho Thiên Chúa, cho Giáo Hội ngay trong môi trường sống và hoạt động nghề nghiệp của mình. Chẳng hạn như: những bác sĩ, y tá, hộ sinh,… là những người Công Giáo họ cần sống đức tin, thể hiện cách sống qua công việc phục vụ bệnh nhân cách ân cần, bảo vệ sự sống các trẻ thơ, phục vụ với hết khả năng của mình như Đức Kitô đã cứu chữa những người đau ốm, què quặt, đui mù,…(x. Mt 15,30) vì “Con Người đến không phải để được phục vụ mà Ngài đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Không chỉ dừng lại ở đó, người giáo dân dù trong hoàn cảnh nào cũng thể hiện đúng vai trò và vị trí của mình trong xã hội như: Giáo Viên là những người thầy, người cô giúp các em hiểu biết về kiến thức và giáo dục các em phát triển về nhân bản, trở thành một con người có ích cho xã hội. Ngày nay, khoa học kỷ thuật tiến bộ các phương tiện truyền thông giúp chúng ta hiểu và biết rất nhiều về các lĩnh vực: văn hóa, y tế, chính trị,… là người công giáo, là người công dân tốt chúng ta hãy rao truyền Đức Kitô để mọi người nhận biết qua các tin tức lành mạnh, thông tin bổ ích,… ngoài ra, người giáo dân cần phải có nhiệm vụ cộng tác vào sự phát triển của nhân loại với tất cả các giá trị của nó. Hiện diện trong các lĩnh vực khoa học, sáng tạo nghệ thuật, suy tư triết học, nghiên cứu lịch sử,… người giáo dân đóng góp các kiến thức cần thiết cho các lĩnh vực để làm phát triển xã hội. Các hoạt động nghệ thuật như phim ảnh, kịch nghệ, các chương trình bổ ích,… người giáo dân cần ý thức trách nhiệm sâu sắc về việc dấn thân trong các lĩnh vực ấy.
Ngoài ra, người giáo dân còn phải ý thức cho việc đấu tranh dành lại công bình bác ái, đem lại sự thịnh vượng và hòa bình thực sự cho thế giới[13]. Người giáo dân được mời gọi dấn thân vào sinh hoạt chính trị tùy theo khả năng của họ cũng như những hoàn cảnh thời gian và không gian, với mục đích đề cao lợi ích chung trong tất cả mọi nhu cầu và nhất là trong việc thực thi công lý để phục vụ công nhân xét như những con người[14], để tái lập nền hòa bình trên thế giời, xây dựng nền giáo dục văn minh sự sống, văn minh tình thương, thực hiện đúng sứ mạng của người giáo dân nơi môi trường xã hội, dưới tác động của đức ái, đức tin, đức cậy, chứng từ của người giáo dân lan tràn nơi môi trường sống và làm việc của mình.
3.      Vai trò và vị trí của người Giáo Dân trong Giáo Hội Việt Nam
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong Huấn từ về tông đồ giáo dân dịp Năm thánh 2000, đã phát biểu tại Quảng trường Thánh Phêrô: “Giờ giáo dân đã điểm. Làm một Kitô hữu, chưa bao giờ là một việc dễ dàng, ngày xưa cũng vậy mà ngày nay cũng thế. Muốn theo Chúa Kitô cần phải can đảm chọn lựa dứt khoát, thường thường là phải lội ngược dòng…”[15] Thích ứng nhiều hơn với tinh thần Công đồng Vaticanô II, người giáo dân Việt Nam hôm nay nói chung rất tích cực trong việc tham gia vào các hội đồng, hội đoàn của giáo phận, giáo xứ, thực hiện các hoạt động tông đồ với nhiều sáng kiến trong ý thức vâng phục “các chủ chăn có nhiệm vụ thánh đại diện Chúa Kitô”[16]. Về phương diện hình thức, Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện cũng đang có dáng vẻ chuyển mình khá rõ rệt. Sự trợ giúp quảng đại của kiều bào, các giáo hội chị em từ nước ngoài và các tổ chức quốc tế cùng với những đóng góp chắt chiu của dân chúng trong nước, nhiều công trình xây dựng của Giáo hội đã và đang được trùng tu, tôn tạo, hoặc xây dựng mới: nhà xứ, nhà sinh hoạt, trung tâm mục vụ, chủng viện, tòa giám mục….[17] Từ một số thực tế nhận định khái quát về việc thực thi vai trò của giáo dân trong Giáo hội và cách riêng trong xã hội Việt Nam.
Chúng ta nhìn lại một chút về lịch sử Giáo hội Công Giáo Việt Nam với những người giáo dân bị tù đày, bị kỳ thị, … vì hoạt động tôn giáo của mình. Sự gắn bó của những người giáo dân này với niềm tin nơi Đức Kitô và Giáo hội của Người quả rất đáng trân trọng. Họ cũng có thể được sánh ví với những người giáo dân thuở xưa, những người được Giáo hội chính thức nhìn nhận công đức qua việc phong thánh năm 1988 với 117 Thánh Tử đạo. Trong những hoàn cảnh khó khăn khó có thể đòi hỏi gì hơn anh chị em giáo dân ngoài sự gắn bó với Đức Kitô với lòng tin Kitô giáo, với Giáo hội và với cộng đoàn, dù những hình thức giữ đạo và hành đạo có thể họ có lúc bị đánh giá nặng nề về đạo đức tình cảm. Tuy nhiên, vai trò và vị trí của người giáo dân vẫn chưa được chú trọng.
Trong thực tế, Giáo hội Việt Nam ngày hôm nay như thế nào? Khi mà xã hội với những thành tựu khoa học kĩ thuật tiến bộ, đời sống kinh tế cũng khám phát triển, dù ở nhiều nơi vẫn còn nghèo đói. Vậy vai trò và vị trí của người giáo dân trong Giáo Hội ra sao? Trước hết chúng ta phải nhìn nhận rằng, ở tại một số nơi nhiều phần việc thuộc phạm vi quản lý giáo xứ đã được giao phó cách tín nhiệm cho hội đồng giáo xứ gồm chủ yếu là những người giáo dân. Việc đào tạo các linh hoạt viên cho mục vụ giới trẻ, giáo lý viên để hợp tác với linh mục và tu sĩ lo việc dạy giáo lý cho trẻ em… đã phát triển thành phong trào. Cũng vậy ở một số nơi khác người giáo dân còn được đào tạo và giảng dạy trong việc dạy giáo lý[18], dạy các khoa học thánh[19], và trong việc sử dụng các phương tiện truyền thong xã hội[20], hay các lớp linh hoạt viên tổ chức tại các Giáo Xứ, Giáo Phận,… Ngoài ra, người giáo dân còn được tham gia trong các việc mục vụ như: Caritas ve chai, giúp đỡ những người nghèo, các hoạt động từ thiện, chăm sóc bệnh nhân HIV, AIDS,… Bên cạnh đó, người giáo dân còn được tham gia vào các buổi hợp như giáo phận TP. HCM tổ chức các buổi công nghị Giáo Phận để chỉ ra các đường hướng mới giúp phát triển Giáo Phận, người giáo dân cũng được tham dự vào các Lễ nghi như thừa tác viên sách thánh, giúp lễ,… trong các nghi thức Phụng Vụ.
Nhìn chung lại, hình ảnh, vai trò và vị trí của người giáo dân trong giáo hội Việt Nam cũng giữ một vị trí không kém quan trọng. Tuy nhiên, Giáo Hội Việt Nam một cách nào đó cũng chưa quan tâm đầy đủ đến vai trò người giáo dân trong Giáo Hội. Nhiều giáo dân vẫn chưa tự cho mình là cánh tay, một dụng cụ hỗ trợ hàng Giáo Sĩ hơn là những người chia sẽ trách nhiệm trong cùng một sứ mệnh Chúa trao. Quả thật, đây vẫn còn là một thách đố cho Giáo Hội Việt Nam khi trở nên “cộng đoàn của các cộng đoàn”, hay “nguyên lý hiệp thông” của cộng đoàn. Vì thế Giáo hội Việt Nam cần phải nổ lực hơn nữa để giúp người giáo dân ý thức trách nhiệm và nhận ra vai trò, vị trí của mình trong Giáo hội.
KẾT LUẬN
Tóm lại, Công đồng Vanticanô II đã mở ra một bước đột phá mới, là trả lại cho người giáo dân “căn tính” của họ. Qua đó người giáo dân được phục vụ trong môi trường hoạt động của mình như: gia đình, xã hội,… để họ được tôn trọng, bình đẳng và thực thi sứ mệnh, tìm kiếm nước Thiên Chúa và làm cho Nước ấy được lan rộng khắp nơi, nhất là thực hiện lời di chúc của Chúa Giêsu “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15).
Bên cạnh đó, Giáo Hội Việt Nam cũng đang từng bước giúp người giáo dân nhận ra và hiểu được vai trò, vị trí của mình trong Giáo hội Hoàn Vũ cũng như Giáo Hội Địa Phương qua các sinh hoạt trần thế, trong tương giao với mọi người để họ trở nên “ánh sáng trần gian” nơi môi trường sống của mình qua các việc phục vụ, bác ái, chia sẽ,...

DANH MỤC THAM KHẢO

a&b

1.     GIOAN PHAOLÔ II, Tông Huấn Familiaris Consortio,
     22 -11 -1981.
2.     VANTICANO II - Apostolicam Actuositatem số 4, số 11.
3.     CF. Y. CONGAR, L’Eglise comme Peuple de Dieu, in Concilium 1965/1;  Lm Thiện Cẩm, Giáo hội, Cộng Đồng Dân Chúa, Tp. HCM, 1994.
4.     Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 1324.
5.     GIUSE NGUYỄN MINH SƠN. OP, Giáo trình Vị Trí và Sứ Mạng của Người Giáo Dân dưới lăng kính của Công đồng Vanticanô II
6.     GIOAN PHAOLÔ II, Vai trò người Giáo Dân trong mầu nhiệm Giáo Hội, 2001, Nxb Pauline Books and Media, Boston, 1998, do Ngọc Đính dịch, 2001, tr. 84 – 85.
7.     GIOAN PHAOLÔ II, Huấn từ về tông đồ giáo dân, 26-11-2000.
8.     HOANG H. Ta - A Training Program to Promote Collaborative Leadership in a Parish Pastoral Council of Vietnamese People (Washington, DC: The CatholicUniversityof America, 2005), 95.
9.     PHAO LÔ NGUYỄN THÁI HỢP.OP, Vai trò người Giáo Dân dưới ánh sáng Công Đồng Vanticano II, Truy cập trên trang wel- www.hdgmvietnam.org/vai-tro-cua-nguoi-giao-dan-trong-giao-hoi-v...Bản lưu

[1] Ơn gọi và sứ vụ của người Giáo Dân trong Giáo Hội và trong thế giới 20 năm sau công đồng- năm 1987
[2] Vanticano II - Apostolicam Actuositatem
[3] Cf. Y. Congar, L’Eglise comme Peuple de Dieu, in Concilium 1965/1 ; Lm Thiện Cẩm, Giáo hội, cộng đồng Dân Chúa, Tp. HCM, 1994.

[4] LG số 33
[5] FC số 33.
[6] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 1324.
[7] Vanticano II - Apostolicam Actuositatem số 4
[8] x. GS số 49                                                                                                                                                   
[9] Gravissimum educationis, 2
[10] Vanticanô II – Apostolicam Actuositatem số 11
[11] Apostolicam Actuositatem, số 11
[12] Giáo trình Vị Trí và Sứ Mạng của Người Giáo Dân dưới lăng kính của Công đồng Vanticanô II
[13] X. GS  số 72.
[14] GS số 75, Gioan Phaolô II, Vai trò người Giáo Dân trong mầu nhiệm Giáo Hội, 2001, Nxb Pauline Books and Media, Boston, 1998, do Ngọc Đính dịch, 2001, tr. 84 – 85.
[15] Gioan Phaolô II, Huấn từ về tông đồ giáo dân, 26-11-2000.
[16] X. Hoang H. Ta - A Training Program to Promote Collaborative Leadership in a Parish Pastoral Council of Vietnamese People ( Washington, DC: The CatholicUniversityof America, 2005), 95.
[17] Truy cập trên trang wel - www.hdgmvietnam.org/vai-tro-cua-nguoi-giao-dan-trong-giao-hoi-v...Bản lưu
[18] GL 774.
[19] GL 229.
[20] GL 823.