nut

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2011

ĐIỂM VĂN THƯ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ LECTIO DIVINA







ĐIỂM VĂN THƯ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ LECTIO DIVINA


“ Anh em đang ở vườn Kinh Thánh, ngày đêm anh em chăm lo suy gẫm luật Chúa. Sách anh em đọc cũng nhiều bằng số lượng vườn tược anh em rảo qua và tư tưởng anh em kín múc nơi sách vở cũng như hoa trái trong vườn anh em chăm sóc” (Guerric d`Igny).

Chính vì thế mà số lượng tác giả nghiên cứu hiện nay khá phong phú về việc cầu nguyện với phương thế Lectio Divina nên một số tác giả đã trình bày một cách cụ thể về Lectio Divina như Tác giả Jacques Rousse trong tác phẩm “Dictionnaire de Spiritualite Xpp 470-510) nêu rất rõ các mốc lịch sử của Lectio Divina. Qua đó cho chúng ta một sự lắng nghe như thế gắn kết toàn vẹn con người trong tình yêu thực sự của Chúa để được “Lời ở kề gần con, trên môi miệng con và trong lòng con” (Đnl 30,14, Rm10,8). Trong các thế kỷ đầu, các tu sĩ đọc và Cầu Nguyện với Lời Chúa suốt ngày, không theo một “lược đồ” nào rõ rệt. Khoảng năm 1150, một tu sĩ trẻ (sau trở thành Tu Viện trưởng) tên là Guigo II đã trình bày Lectio Divina theo hình ảnh một cái thang có bốn bậc (cảm hứng từ “cây thang Giacóp” xst 28,12) đó là “bốn bậc Thang Thần đưa người ta từ đất đến trời”mà Philipphê Trần đã tổng hợp. Bốn bậc thang đó là: đọc Lời Chúa, Suy niệm, Cầu Nguyện, Chiêm Niệm. Cũng cùng chung một nhận định như thế Hoàng Quý và Đồng Hành đã trình bày khá chi tiết về trình tự đọc Lời Chúa được Hội Thánh nhìn nhận và áp dụng. Đây cũng là việc mà chúng ta không được quên, không được lơ là. Bởi thế Marc Daniel dòng Xitô trong tập tài liệu “ Lectio Divina – đọc Lời Chúa” đã trình bày tổng quát về nền tảng việc đọc Lời Chúa, qua đó giúp chúng ta tìm kiếm gương mặt Chúa Kitô trên đó tỏa sáng vinh quang của Chúa Cha (2 Cor 4,6) và thông hiệp mật thiết với Chúa Thánh Thần dưới các bước hình thể như: Lectio, Meditatio, L`Oratio, Contemplatio của việc đọc Lời Chúa.

Gần đây, Đức Giám Hoàng Bênêđictô XVI trong tông huấn Verbum Domini đã khuyết khích Kitô hữu đọc Kinh Thánh (s.86) và việc thực hành Lectio Divina (s.87) với bốn căn bản của Lectio Divina bắt đầu bắng việc đọc (Lectio) bản văn, sau đó là suy niệm (Meditatio), rồi người ta đi tới phần cầu nguyện (Oratio) cuối cùng Lectio Divina kết thúc bằng sự chiêm ngưỡng (Contemplatio). Lời Chúa là nguồn mạch đầu tiên của mọi linh đạo Kitô giáo. Lời Chúa nuôi dưỡng tương quan cá vị với Thiên Chúa hằng sống và ý Chúa muốn cứu độ và thánh hóa của Ngài (Vita Consecrata 94), lắng nghe Lời Thiên Chúa đòi hỏi là một dấn thân kiên trì được nuôi dưỡng bằng đức tin qua Lectio Divina mà Đặng Quang Tiến  (chuyển dịch) đã trình bày về Lectio Divina trong phụng vụ và trong cộng đoàn với bốn yếu tố: Lectio, suy niệm, kinh nguyện, cầu nguyện giúp các tín hữu tham dự một cách sâu xa và trở nên chứng tá cho Đức Kitô.

Ngoài ra còn rất nhiều văn thư liên quan đến  phương thế thực hành Lectio Divina,… để giúp các tín hữu sống Lời Chúa tốt hơn trong ơn gọi làm con Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.

Lectio Divina là một phương thế quan trọng trong việc đọc Kinh Thánh. Đây là cách thế truyền thống nhất trong Hội Thánh. Vì thế, Lectio Divina cũng cổ xưa như Hội Thánh, một Hội Thánh vốn sống nhờ Lời Chúa của Thiên Chúa và lệ thuộc vào Lời ấy như nước với nguồn ( x. Dei Verbum ss.7.10.21). Lectio Divina là đọc Lời của Thiên Chúa với tâm tình tin tưởng và cầu nguyện, đặt nền tảng trên lòng tin vào Chúa Giêsu “ Thánh Thần sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 14,16; 16,12). Do đó, Kinh Thánh khơi mở cho chúng ta về phương thế cầu nguyện này. Kiểu nói “ Lectio Divina” có từ thời các giáo phụ, các Ngài đã đúc kết, tóm tắt về phương thế Lectio Divina. Tuy nhiên, Công Đồng Vaticanô II (1962-1965), nhất là qua Hiến Chế Mạc Khải “Dei Verbum” đã trả lại cho Lectio Divina vị thế ban đầu. Nhưng thật là đáng tiếc khi quyển Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo lại chỉ đề cập đến hình thức cầu nguyện (GLHTCG 2700 -2718) chứ không nêu rõ phương pháp thực hành Lectio Divina.

Tuy thư văn liên quan đến Lectio Divina thật phong phú và bao quát, nhưng những giáo huấn cụ thể giúp tín hữu hiểu được ý nghĩa việc mình làm trong cách thực hành Lecito Divina chưa được tìm hiểu cặn kẽ. Việc thực hành Lectio Divina sẽ giúp cho các tín hữu sống tốt hơn nhưng các tác phẩm lại chưa đề cập đến việc đưa ra các quyết tâm, hành động sau khi thực hành Lectio Divina. Sống Lời Chúa là tâm điểm của đời sống Kitô hữu nhưng trong phụng vụ của Giáo Hội lại không có phần nào nhắc đến việc đưa Lectio Divina vào trong phụng vụ cả. Ngoài ra cũng chưa có mấy tác phẩm đặt lại vấn đề về tính hội nhập văn hóa cũng như canh tân phương pháp Lectio Divina, nhất là cần phải thống nhất về phương thế thực hành Lectio Divina bên cạnh đó cũng chưa đề cập đến những thực trạng xã hội hôm nay như làm sao đưa phương thức thực hành này vào những nơi vùng sâu vùng xa, cho những người “mù chữ”, hay cho những người khiếm thị,… để họ cũng thông hiệp với Chúa trong cuộc sống của họ.

Ngày nay, nhiều lãnh vực mang đậm nữ tính, vì thế cần cũng cần phải thêm vào đó một chút gì tronh phương thế Lectio Divina cho phù hợp với nữ giới như: chọn lọc những giai điệu nhạc nhẹ mang tính chất cầu nguyện, hay trước khi bước vào Lectio Divina nên để tâm hồn mình lắng lại bằng , cũng có thể tận dụng việc tập Yora để thực hành Lectio Divina vì não trạng con người ngày nay là thực dụng nên việc tận dụng các phương thế để cầu nguyện là điều hết sức cần thiết.

Trước những thực tại, những khó khăn cũng như những khía cạnh chưa được làm sáng tỏa trong đề tài nghiên cứu sẽ giúp cho bài này trở nên phong phú hơn . Do đó, dẫn đến việc nghiên cứu đề tài này.

                                                                                                                                                      


                                                                                                                                                      

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2011

BÀI SUY NIỆM CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM B

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM B
Lời Chúa: Is 61, 1-2a.10-11; 1Tx 5,16-24; Ga 1, 6-8.19-28
"Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-an. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng".

Gioan Tiền Hô
Sống dưới ách thống trị của đế quốc La-mã dân Do Thái luôn trông chờ một Đấng cứu thế do Thiên Chúa sai đến. Họ đã mượn nỗi khắc khoải của cha ông thuở trước để cầu xin: Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa Đấng cứu đời. Chính vì thế, khi Gioan xuất hiện bên bờ sông Giođan, họ đã phấn khởi vui mừng. Và rồi họ đã cử một phái đoàn đến để tìm hiểu cho cặn kẽ và thấu đáo. Những người này đã hỏi Gioan: Ông là ai, ông có phải là Đức Kitô hay không. Gioan đã xác quyết với họ: Tôi không phải là Đấng Cứu Thế, nhưng tôi chỉ là người tiền hô, đi trước để dọn đường cho Ngài. Hãy chuẩn bị vì Ngài sắp đến. Hãy sám hối ăn năn vì Nước Trời đã gần. Ông không để cho người ta chú ý tới ông mà trái lại, ông hướng mọi sự chú ý của họ vào Đức Kitô: Ngài cần phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi.
Qua sứ điệp của Gioan Tiền Hô, chúng ta rút ra hai điểm thực hành. Điểm thứ nhất đó là hãy sám hối, cải thiện đời sống. Thực vậy, Chúa không phải chỉ đến với chúng ta trong đêm giáng sinh, mà hơn thế nữa Ngài còn đến với chúng ta vào ngày tận cùng của vũ trụ, cũng như vào ngày sau hết của cuộc đời chúng ta. Và hơn thế nữa, Ngài còn đến với chúng ta mỗi ngày qua bí tích Thánh Thể. Như thế cuộc đời chúng ta phải là một mùa vọng nối dài. Và trong mùa vọng cuộc đời này chúng ta phải thực hiện ngay sứ điệp của Gioan Tiền Hô, đó là hãy sám hối, dọn đường Chúa đến. Sám hối ở đây không phải chỉ là hối tiếc về những tội đã phạm mà hơn thế nữa còn phải cố gắng uốn nắn sửa đổi để nhờ đó thăng tiến bản thân, đổi mới cuộc đời.
Điểm thứ hai, đó là hãy trở nên những tiền hô cho Chúa. Thực vậy, là người Kitô hữu, chúng ta không phải chỉ có Chúa trong tâm hồn, mà hơn thế nữa, còn phải đem Chúa đến cho người khác. Dọn đường cho Chúa đến trong tâm hồn của mình mà thôi chưa đủ, chúng ta còn phải dọn đường để Chúa cũng đến được trong tâm hồn người khác. Muốn được như thế, chúng ta cần phải có một đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương, nhờ đó mà dần dần chúng ta có thể cảm hoá được những người chung quanh và dẫn đưa họ trở về cùng Chúa.
Dọn đường Chúa đến trong tâm hồn mình và giúp người khác dọn đường Chúa đến trong tâm hồn họ đó là việc chúng ta cần phải làm ngay trong mùa vọng này.
Vì Ngài Ở Với Chúng Ta – Guy Morin
Đây là thời gian của những chứng nhân.
Môi trường chúng ta đang sống hầu như hoàn toàn thiếu vắng những dấu chỉ về sự hiện diện của Thiên Chúa. Người ta loại khỏi các cơ sở những gì nhắc đến niềm tin Kitô. Không còn ảnh thánh giá trong các bệnh viện và trường học nữa; Lời chứng long trọng thay thế cho lời tuyên thệ; Hôn nhân dân sự đẩy lùi hôn nhân tôn giáo. Người ta không còn khả năng đưa ra những dấu chỉ này nữa: Nhiều trẻ em không biết làm dấu Thánh giá và việc dậy giáo lý làm cho nhiều nhà giáo phải lúng túng.
Dĩ nhiên các thành phố của chúng ta đầy dẫy nhà thờ và chuông còn reo vang. Ở thôn quê, đó đây người ta nhìn thấy những thập giá trên nóc thánh đường và những hang Đức Mẹ. Tuy nhiên xã hội chúng ta sống và được xây dựng như thể Thiên Chúa đã không hề lên tiếng nói với con người, như thể Ngài câm lặng và vắng mặt.
Chúng ta tin rằng Thiên Chúa hiện diện trong lịch sử loài người chúng ta, nhưng bằng một sự hiện diện kín đáo và vô hình. Sự kín đáo của Thiên Chúa đòi hỏi phải có những chứng nhân. Thiên Chúa cần những chứng nhân trong thế giới này, nơi mà xem ra Ngài vắng bóng và sự hiện diện của Ngài thật kín đáo.
Gioan Tẩy Giả, vị chứng nhân gương mẫu.
Chính kinh nghiệm bản thân làm nên chứng nhân. Gioan Tẩy Giả kể lại cho chúng ta kinh nghiệm của ông: "Tôi không biết Ngài, nhưng Đấng đã sai tôi làm phép rửa trong nước, chính Đấng ấy đã nói với tôi: Ngươi thấy Thánh Thần đậu xuống trên ai thì chính đó là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Và tôi đã thấy và làm chứng rằng Ngài là Con Thiên Chúa". Chứng tá của Gioan dựa trên mặc khải của Thiên Chúa sau này được chứng thực trong một sự kiện mà ông đã thấy. Thánh Thần xuống trên Chúa Giêsu.
Từ kinh nghiệm bản thân này Gioan sẽ làm chứng về Chúa Giêsu bằng lời nói và việc làm. Việc rao giảng của ông gây xôn xao tại Israel: Người ta luôn đến nghe ông giảng và ông ban phép rửa thống hối. Vì ông là con vị thượng tế, tức là một nhân vật quan trọng, nên các chức trách tôn giáo đã được báo động và họ làm một cuộc điều tra: Ông là ai? Tại sao ông làm phép rửa? Ông tuyên bố: "Ở giữa các ông có một Đấng mà các ông không biết".
Chứng nhân hoàn toàn hướng về một Đấng khác mà mình chỉ là tôi tớ khiêm tốn mà thôi. Gioan tuyên bố mình không đáng cởi dép cho Ngài, tức là làm công việc của một nô lệ.
Kinh nghiệm bản thân, dũng cảm trong lời nói và trong hành động, xóa mình đi, ba đức tính này của chứng nhân, Gioan Tẩy Giả đều có ở mức độ cao.
Người ta đòi hỏi những chứng nhân.
Các giám mục của chúng ta viết: "Kitô hữu có khuynh hướng khép kín về lãnh vực tôn giáo riêng tư nơi gia đình, ở học đường và trong phụng vụ. Họ thoải mái khi ở phòng thánh hơn là ngoài đường phố".
Đây là một cách nói: Người ta đòi hỏi phải có những người làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô! Chúng ta phải làm gì đây? Mang kèn trống và biểu ngữ diễu hành ngoài đường chăng? Treo vào xe hơi của chúng ta một tấm bảng để tên Giêsu ư? Làm áp lực để tại học đường người ta treo ảnh thánh giá và cho đọc kinh ư? Hoặc là cho Giáo Hội nhiều ảnh hưởng hơn?
Những hành động này không xấu nhưng vẫn còn hời hợt và có nguy cơ áp đặt niềm tin của chúng ta trên kẻ khác.
Ngày nay chúng ta được mời gọi đào sâu kinh nghiệm của mình về Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô trong Tin Mừng. Nhờ đó, chúng ta sẽ trở nên vừa cởi mở đối với những kẻ cảm thấy mình xa Giáo Hội vừa phê phán đối với những bất công và những điều vô nhân đạo của xã hội chúng ta.
Xin thánh Gioan Tẩy Giả cảm hứng cho chúng ta trở thành những chứng nhân của Chúa Giêsu và những kẻ phản chiếu ánh sáng của Ngài.
Suy niệm của ĐTGM. Ngô Quang Kiệt
CHỨNG NHÂN CỦA ÁNH SÁNG
Trên đời có nhiều thứ ánh sáng: ánh sáng vật lý, ánh sáng văn hoá, ánh sáng khoa học, ánh sáng tâm linh. Để nhìn ra ánh sáng, cần có một khả năng nào đó. Để thấy ánh sáng vật lý, chỉ cần có đôi mắt bình thường. Nhưng để nhìn thấy ánh sáng khoa học, phải có một số vốn kiến thức cần thiết. Để thấy ánh sáng văn hoá, cần được khai tâm mở trí. Và để thấy được ánh sáng tâm linh, cần có các chứng nhân chiếu dọi. Thánh Gioan Baotixita là chứng nhân của Đức Ki-tô ánh sáng. Ngài làm chứng cho Đức Ki-tô bằng chính cuộc đời trong sáng của ngài. Nhìn vào cuộc đời ngài, ta thấy toả ra các làn ánh sáng sau đây:
Làn ánh sáng thứ nhất mà ta thấy nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự khiêm nhường. Ngài khước từ mọi vinh quang người ta phủ quanh ngài. Ngài thành thực nhận mình không phải là Đấng Cứu Thế toàn dân mong chờ, không phải là Êlia vĩ đại, cũng không phải là một tiên tri cao cả. Ngài tự nhận mình chỉ là một "tiếng kêu trong sa mạc". Ngài khiêm nhường nói rằng ngài không xứng đáng xách giày cho Đẫng Cứu Thế. Thật là khiêm nhường tự hạ. Đức khiêm nhường ấy chiếu lên dung mạo ngài một làn ánh sáng. ánh sáng ấy khiến cho lời chứng của ngài càng có sức thuyết phục. ánh sáng ấy phản chiếu dung mạo đích thực của Đấng Cứu Thế, Đấng tuyệt đối khiêm nhường.
Làn ánh sáng thứ hai ta thấy nơi cuộc đời của thánh nhân là làn ánh sáng của sự khổ hạnh. Phần lớn đời ngài ẩn dật trong sa mạc. Sống trong sa mạc đồng nghĩa với sống khổ hạnh. Ngoài sự khắc nghiệt của thời tiết, sự hoang vu cô tịch, sự đe doạ của thú dữ, thánh Gioan Baotixita còn tự nguyện sống khó nghèo, đơn sơ, đạm bạc. Y phục của ngài chỉ là mảnh da thú quấn quanh thân thể. Thức ăn của ngài là châu chấu và mật ong rừng. Sự khổ hạnh không chỉ loé sáng lên một ý chí mạnh mẽ biết vượt thắng chính bản thân mình, mà còn chiếu ánh sáng hy vọng vào tương lai. Người lệ thuộc vào vật chất là người bị trói buộc trong hiện tại. Người khổ hạnh là người đặt niểm hy vọng ở tương lai. Niềm hy vọng ấy chiếu sáng vào cuộc đời hiện tại vì làm cho cuộc sống có một ý nghĩa cao đẹp và sâu xa. Tương lai tươi sáng mà thánh Gioan Baotixita chờ đón chính là Đức Giêsu Ki-tô mà ngài loan báo.
Làn ánh sáng thứ ba nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự trung thực. Trung thực trong những lời nói về chính mình, nên ngài không dám nhận những vinh quang người đời tưởng lầm Ngài có. Ngài chỉ nhận những sự thực rất khiêm nhường, rất bé nhỏ của mình. Trung thực với lòng mình, nên ngài sống một cuộc sống khổ hạnh, không phô trương, không giả dối. Trung thực trong những phán đoán về người khác, nên ngài đã thẳng thắn khuyên vua Hê-rô-đê không đựơc phép lấy chị dâu. Chính sự trung thực này đã phải trả giá bằng cái chết chẳng toàn thây. Nhưng sự trung thực ấy đã làm sáng lên cuộc đời chứng nhân. Làn ánh sáng ấy cho ta thoáng thấy ánh sáng đích thực của Đấng là Sự Thật, là chính Đức Giêsu Ki-tô.
Làn ánh sáng thứ tư nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự quên mình. Biết mình chỉ là người đưa tin, thánh nhân luôn xoá mình đi, để cho Đấng là chính Tin Mừng được nổi bật. Biết mình chỉ là người mở đường, thánh nhân luôn tự hạ để cho Đấng là Đường được mọi người nhận biết. Làm chứng cho sự thật, thánh nhân đã tự nguyện hy sinh để cho Đấng là Sự Thật được trân trọng. Khi mọi người tuốn đến với Ngài, Ngài đã không giữ lại cho mình, nhưng đã giới thiệu họ đến với Đức Giêsu, nên ngài nói: "Người đến sau tôi, nhưng tôi không đáng cởi dây giầy cho Người" (Ga 1,27). Nhiều môn đệ đã theo Ngài, nhưng Ngài giới thiệu để họ theo làm môn đệ Đức Giêsu. Khi thấy đám đông đã bỏ ngài để đi theo Đức Giêsu, ngài hài lòng vì thấy nhiệm vụ đã hoàn tất, nên ngài nói: "Chúa phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi" (Ga 3, 30).
Thánh Gioan Baotixita thật là một chứng nhân tuyệt hảo. Ngài đã biết tự hạ mình xuống để Chúa được nổi bật lên. Ngài đã biết ẩn mình trong bóng tối để Chúa được xuất hiện trong ánh sáng. Ngài đã biết tự huỷ mình đi để Chúa được nhận biết. Ngài đúng là người đi mở đường cho Chúa. Ngài thực là chứng nhân của ánh sáng.
Mùa Vọng này, mọi người đang chờ đón Chúa đến. Chúa muốn tôi hãy đi mở đường cho Chúa. Chúa muốn tôi làm chứng cho Chúa. Chúa muốn tôi giới thiệu Chúa cho anh em. Nhưng rất nhiều khi, thay vì mở đường cho Chúa, tôi chỉ lo mở đường cho tôi. Rất nhiều khi thay vì làm chứng cho Chúa, tôi chỉ lo làm chứng cho tôi. Rất nhiều khi thay vì giới thiệu Chúa, tôi chỉ giới thiệu bản thân mình.
Hôm nay, Chúa mời gọi tôi hãy soi mình vào tấm gương của thánh Gioan Baotixita để biết cách dọn đường cho Chúa ngự đến.
Xin thánh Gioan Baotixita giúp chúng con sống trong sáng để trở nên chứng nhân của ánh sáng.

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM B

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM B
NHỜ THÁNH KINH,CHÚNG TA BIẾT THIÊN CHÚA VÀ BIẾT ĐỨC GIÊ-SU
CHÚA NHẬT THỨ III MÙA VỌNG NĂM B (11.12.2011)
[Is 61,1-2a.10-11; 1 Tx 5,16-24; Ga 1,6-8.19-28]
I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
Thánh Giê-rô-ni-mô, linh mục tiến sĩ Hội Thánh đã nói một câu bất hủ mà các vị lãnh đạo và chủ chăn trong Giáo hội, các giảng viên Thánh Kinh đều nhắc đi nhắc lại với giáo dân và học viên của mình: “Không biết Thánh Kinh là không biết Đức Ki-tô”
Quả đúng như thế.
Nếu chúng ta không đọc các bài Sách Thánh của Phụng Vụ Chúa nhật III Mùa Vọng hôm nay thì làm sao chúng ta biết được Đức Giê-su là Ai, biết Thiên Chúa của Ki-tô giáo là Đấng nào?
Nhờ ngôn sứ I-sai-a, Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta và Thánh Phao-lô Tông đồ dân ngoại, chúng ta biết Thiên Chúa và biết Đức Giê-su là Chúa của chúng ta.
II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Trong bài đọc 1 (Is 61,1-2a.10-11): Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa.
(1) Thần Khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, (2a) công bố một năm hồng ân của Đức Chúa, một ngày báo phục của Thiên Chúa chúng ta…
(10) Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa, nhờ Thiên Chúa tôi thờ, tôi hớn hở biết bao! Vì Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ, choàng cho tôi đức chính trực công minh, như chú rể chỉnh tề khăn gói, tựa cô dâu lộng lẫy điểm trang (11) Như đất đai làm đâm chồi nẩy lộc, như vườn tược cho nổ hạt sinh mầm, Đức Chúa là Chúa Thượng cũng sẽ làm trổ hoa công chính, làm trổi vang lời ca ngợi trước mặt muôn dân.
2.2 Trong bài đọc 2 (1 Tx 5, 16-24): Thần trí, tâm hồn và than xác an hem phải được giữ gìn vẹn toàn trong ngày Chúa quang lâm.
(16) Anh em hãy vui mừng luôn mãi (17) và cầu nguyện không ngừng (18) Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh.. (19) Anh em đừng dập tắt Thần Khí. (20) Chớ khinh thường ơn nói tiên tri. (21) Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ; (22) còn điều xấu dưới bất cứ hình thức nào thì lánh cho xa. (23) Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an, thánh hóa toàn diện con người anh em, để thần trí, tâm hồn và thân xác anh em, được gìn giữ vẹn toàn, không gì đáng trách, trong ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta quang lâm. (24) Đấng kêu gọi anh em là Đấng trung thành: Người sẽ thực hiện điều đó.
2.3 Trong bài Tin Mừng (Ga 1,6-8.19-28): Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết.
(6) Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gio-an (7) Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. (8) Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
(19) Và đây là lời chứng của ông Gio-an, khi người Do-thái từ Giê-ru-sa-lem cử một số tư tế và mấy Thầy Lê-vi đến hỏi ông: “Ông là ai?” (20) Ông tuyên bố thẳng thắn: “Tôi không phải là Đấng Ki-tô.” (21) Họ lại hỏi ông: “Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Ê-li-a không?” Ông nói: “Không phải.” – “Ông có phải là một vị ngôn sứ chăng?” Ông đáp: “Không.” (22) Họ liền nói với ông: “Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói gì về chính ông?” (23) Ông nói: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.” (24) Trong nhóm được cử đi có mấy người thuộc phái Pha-ri-sêu. (25) Họ hỏi ông: “Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Ki-tô, cũng không phải là ông Ê-li-a hay vị ngôn sứ?” (26) Ông Gio-an trả lời: “Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết (27) Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người.” (28) Các việc đó đã xẩy ra tại Bê-ta-ni-a, bên kia sống Gio-đan, nơi ông Gio-an làm phép rửa.
III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG VÀ SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI SÁCH THÁNH
3.1 Chân Dung của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?): Trong 3 Bài Sách hôm nay chúng ta biết Thiên Chúa nhờ/qua ba tôi tớ lỗi lạc của NGười là ngôn sứ I-sai-a, Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta và Thánh Phao-lô, Tông Đồ Dân Ngoại:
(1) Thiên Chúa mà ngôn sứ I-sai-a làm chứng là Đức Chúa đã xức dầu tấn phong cho sứ giả của Người là Đức Giê-su Na-da-rét. Thiên Chúa đổ tràn Thần Khí trên Người để Người thực thi sứ mạng được giao là loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân và năm hồng ân của Thiên Chúa. Sau này chính Đức Giê-su đã xác định sứ vụ của Người khi long trọng tuyên bố trong hội đường Na-da-rét: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quí vị vừa nghe.” (Lc 4,21). Lời Kinh Thánh ấy là câu 1 và 2 trong Chương 61 của Sách Ngôn sứ I-sai-a ở trên.
(2) Thiên Chúa mà Gio-an Tiền Hô làm chứng là Đấng đang ở giữa dân mà người ta không nhận ra Người. Người làm Phép Rửa trong Thánh Thần trong khi Gio-an Tẩy Giả chỉ làm phép rửa trong nước. Người cao trọng vượt xa Gio-an đến độ Gio-an không xứng được cởi quai dép cho Người. Chính Người mới là ánh sáng trong khi sứ mạng của Gio-an chỉ là làm chứng về ánh sáng, chỉ là dọn đường cho Người mà thôi.
(3) Thiên Chúa mà Thánh Phao-lô Tông đồ cảm nghiệm là Thiên Chúa rộng lòng rộng tay ban phát muôn hồng ân, nhất là Thần Khí cùng với ơn nói tiên tri, ơn khôn ngoan và ơn thẩm định (tốt/xấu) cho người tín hữu. Thiên Chúa còn là nguồn mạch bình an và là Đấng thánh hóa toàn diện con người. Vì thế Người đáng được chúng ta đón rước với tâm tình biết ơn và lời cảm tạ.
3.2 Giáo Huấn của Thiên Chúa (Thiên Chúa dậy gì hay muốn chúng ta làm gì?) Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là chúng ta hãy vui mừng và cất tiếng tạ ơn vì THIÊN CHÚA ĐÃ BAN CON CỦA NGƯỜI CHO CHÚNG TA! Đó chính là Đức Giê-su Na-da-rét, Vị Sứ Giả của Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa của chúng ta. Người đã đến trần gian cách đây hơn hai ngàn năm và Người vẫn ở lại giữa loài người, vẫn ở bên và ở trong chúng ta.
IV. SỐNG VỚI THIÊN CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI
4.1 Sống với Thiên Chúa như con cái sống với cha mẹ, như kẻ thụ ơn sống với Đấng ban ơn, như tạo vật sống với Đấng Tạo Hóa, như ngôn sứ I-sai-a, như Thánh Gio-an Bao-ti-xi-ta và như Thánh Phao-lô tông đồ dân ngoại đã và đang sống với Thiên Chúa.
4.2 Thực thi sứ điệp (hay giáo huấn) của Lời Chúa
Gồm 3 phần hay ba việc:
- Thứ nhất là chúng ta vui mừng cảm tạ Thiên Chúa giầu lòng thương đã ban cho chúng ta Con của Người là Đức Giê-su Na-da-rét,
- Thứ hai là chúng ta đón rước Chúa Giê-su Ki-tô vào trong tâm hồn và đời sống của chúng ta.
- Thứ ba là chúng ta cộng tác với Chúa Giê-su trong sứ vụ loan báo Tin Mừng cho người nghèo và cứu chữa những người đau yếu, bệnh tật, tù tội, bị gạt ra ngoài lề xã hội.
V. CẦU NGUYỆN CHO HỘI THÁNH VÀ THẾ GIỚI
[Ghi chú: Lời cầu nguyện giáo dân thường có 4 ý: ý thứ nhất cầu cho thế giới, ý thứ hai cầu cho Hội Thánh toàn cầu, ý thứ ba cầu cho giáo dân của giáo xứ, ý thứ bốn cầu cho một hạng người đặc biệt nào đó]
5.1 «Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân, công bố một năm hồng ân của Đức Chúa.» Chúng ta hãy hiệp dâng lời cầu: cho các dân tộc và các nhóm người đang phải sống trong đau khổ, bất công, đàn áp để các dân tộc và nhóm người ấy sớm đón nhận Tin Mừng và nhận ra Thiên Chúa là Đấng yêu thương và giải thoát.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa. Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.2 «Anh em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh em đừng dập tắt Thần Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri.» Chúng ta hãy hiệp dâng lời cầu: cho mọi thành phần Dân Chúa, nhất là cho các vị lãnh đạo trong hàng giáo phẩm và giáo sĩ, để mọi Ki-tô hữu sống đúng như lời giáo huấn của Thánh Phao-lô Tông Đồ Dân Ngoại.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa. Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.3 «Ông Gio-an đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.» Chúng ta hãy hiệp dâng lời cầu: cho các tín hữu và các gia đình thuộc giáo xứ chúng ta để mọi người, mọi nhà làm chứng cho ánh sáng là Chúa Ki-tô trong gia đình và khu xóm của mình.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa. Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
5.4 «Hãy cân nhắc mọi sự: điều gì tốt thì giữ; còn điều xấu dưới bất cứ hình thức nào thì lánh cho xa.» Chúng ta hãy hiệp dâng lời cầu: cho những người trẻ đang gặp khó khăn trong cuộc sống và nhiều lúc không biết phải làm gì, để các bạn ấy biết cân nhắc, phân định và chọn lựa cho đúng với lương tâm và phẩm giá làm người và làm con Chúa.
X.- Chúng ta cùng cầu xin Chúa. Đ.- Xin Chúa nhận lời chúng con.
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM B

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG NĂM B



3rd Sunday of Advent
Reading I: Isaiah 61:1-2,10-11 II: 1Thessalonians 5:16-24
Chúa Nhật 3 Mùa Vọng
Bài Đọc I: Isaia 61:1-2,10-11 II: 1Thêxalônica 5:16-24

-----o0o-----

Gospel
John 1:6-8,19-28

6 There was a man sent from God, whose name was John.
7 He came for testimony, to bear witness to the light, that all might believe through him.
8 He was not the light, but came to bear witness to the light.
19 And this is the testimony of John, when the Jews sent priests and Levites from Jerusalem to ask him, "Who are you?"
20 He confessed, he did not deny, but confessed, "I am not the Christ."
21 And they asked him, "What then? Are you Elijah?" He said, "I am not." "Are you the prophet?" And he answered, "No."
22 They said to him then, "Who are you? Let us have an answer for those who sent us. What do you say about yourself?"
23 He said, "I am the voice of one crying in the wilderness, 'Make straight the way of the Lord,' as the prophet Isaiah said."
24 Now they had been sent from the Pharisees.
25 They asked him, "Then why are you baptizing, if you are neither the Christ, nor Elijah, nor the prophet?"
26 John answered them, "I baptize with water; but among you stands one whom you do not know,
27 even he who comes after me, the thong of whose sandal I am not worthy to untie."
28 This took place in Bethany beyond the Jordan, where John was baptizing.

Phúc Âm
Gioan 1:6-8,19-28

6 Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan.
7 Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin.
8 Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
19 Và đây là lời chứng của ông Gioan, khi người Do Thái từ Giêrusalem cử một số tư tế và mấy thầy Lêvi đến hỏi ông: "Ông là ai?"
20 Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng: "Tôi không phải là Đấng Kitô".
21 Họ lại hỏi ông: "Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Êlia không?" Ông nói: "Không phải." - "Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?" Ông đáp: "Không."
22 Họ liền nói với ông: "Thế ông là ai, để chúng tôi còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói gì về chính ông?"
23 Ông nói: "Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ Isaia đã nói.
24 Trong nhóm được cử đi, có mấy người thuộc phái Pharisêu.
25 Họ hỏi ông: "Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu ông không phải là Đấng Kitô, cũng không phải là ông Êlia hay vị ngôn sứ?"
26 Ông Gioan trả lời: "Tôi đây làm phép rửa trong nước.
Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết.
27 Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người."
28 Các việc đó đã xảy ra tại Bêtania, bên kia sông Giođan, nơi ông Gioan làm phép rửa.

Interesting Details
• (v.6) John was abruptly presented. If we already knew about John (never called "the Baptist" in the Fourth Gospel) from the Synoptics, we would envision him in the wilderness of Judea at some place near the Jordan River. Yet in this Gospel we have not been told where John is.
• (v.8) The public appearances of Jesus open with the witness of John the Baptist to the paschal Lamb of God; his appearances will close with the witness of the unnamed beloved disciple, as the pascal Lamb is dying on the cross on Passover eve. John gives us a set of three panels side by side bearing pictures of the Lamb in the center and the two witnesses on either sides.
• (v.23) Even when John makes a positive statement "I am the voice ...", it is, indirectly, a negation. The opening hymn proclaims Jesus as "the Word" (1:1); John is merely "a voice!". He cries out, but only to prepare a way "for the Lord"; he is not "the way" that Jesus will declare himself to be (14:6)
• (v.27) Even though John serves the Lord, heralding Christ and leading many to repentance in preparation for Christ, he disclaims a servant's role, namely untying the master's sandal. This negation prepares for the self-revelation that Jesus will make about himself in this Fourth Gospel. At the Last Supper, Jesus will assume a servant's role, laying aside his garments to wash his disciples' feet (13:5)!

Chi Tiết Hay
• Tác giả đoạn Phúc Âm muốn nhấn mạnh việc Gioan Tẩy Giả xác nhận ông chỉ là nhân chứng có thể là để đánh tan những hiểu lầm vào thời đó về vai trò của Gioan.
• (c.6) Trong Phúc Âm này, Gioan Tẩy Giả được giới thiệu một cách bất ngờ. Những chi tiết về ông như : mặc áo lông lạc đà, thắt lưng dây da, ăn châu chấu chỉ được tìm thấy trong Phúc Âm Nhất Lãm. Cũng trong Phúc Âm Thánh Gioan ta không thấy dùng danh từ "Tẩy Giả".
• (c.8) Cuộc đời công khai của Đức Giêsu được khởi đầu bằng sự làm chứng của Gioan Tẩy Giả cho Chiên Thiên Chúa; cuộc đời đó sẽ chấm dứt với sự chứng kiến của "người môn đệ thương mến" khi Chiên Thiên Chúa chết trên thập giá vào chiều áp lễ Vượt Qua. Phúc Âm Thánh Gioan cho ta một bức tranh ghép ba cảnh: ở giữa là Chiên Thiên Chúa, hai bên là hai nhân chứng.
• (c.23) Các câu trả lời của Gioan hầu hết là để phủ nhận duy chỉ có một câu để xác nhận; nhưng chính lời xác nhận đó lại mang ý nghiã của một sự phủ nhận "Tôi là tiếng người hộ..". Lời mở đầu Phúc Âm của Gioan tuyên xưng Đức Giêsu là "Ngôi Lời" (1:1); trong khi Gioan Tẩy Giả chỉ là một "tiếng hô". Gioan Tẩy giả lớn tiếng rao giảng nhưng chỉ là để "sửa đường cho Đức Chúa đi"; chỉ có Đức Giêsu mới tuyên bố rằng Ngài là "đường" (14:6).
• (c.27) Gioan Tẩy Giả phục vụ Thiên Chúa, mở đường cho Đức Kitô và dẫn đưa nhiều người ăn năn hối cải chờ đón Đấng Cứu Thế tuy nhiên ông vẫn không nhận mình xưng đáng làm đầy tớ Đức Kitô, để cởi quai dép cho Ngài. Lời nói tiêu cực này chuẩn bị để Đức Kitô tiết lộ một hình ảnh đặc biệt của Ngài trong cuốn Phúc Âm thứ tư này: Trong buổi Tiệc Ly, Đức Kitô thi hành nhiệm vụ của một người đầy tớ khi cởi bỏ áo bên ngoài và qùy xuống rửa chân cho các môn đệ (13:5).

One Main Point
John is clearly important - he was sent by God - but he is important precisely as a witness. This emphasis probably reflects some misunderstanding of the Baptist at the time this Gospel was written.

Một Điểm Chính
Gioan Tẩy Giả là một nhân vật quan trọng - vì ông là người được Thiên Chúa sai đến - nhưng dù quan trọng, ông cũng vẫn chỉ đóng vai một nhân chứng.

Reflections
1. Have you ever been mistaken for someone else? Why was John mistaken for Jesus?
2. Is Jesus still present in the world as someone "whom" the world "does not recognize?" How would you point him out?

Suy Niệm
1. Có bao giờ bạn bị lầm tưởng là một người nào khác? Tại sao Gioan bị tưởng lầm là Đức Giêsu?
2. Ngày nay Đức Giêsu có còn là nhân vật mà thế gian vẫn chưa nhận ra chăng? Làm cách nào để bạn giới thiệu Ngài?


CHÚA NHẬT THỨ II MÙA VỌNG NĂM B

CHÚA NHẬT THỨ II MÙA VỌNG NĂM B

SỬA ĐƯỜNG NỘI TÂM


Thư HĐGMVN 2006 đã khẳng định: “ Đời sống đạo vừa cần găn bó với Thiên Chúa, vừa phải đi đến với anh em”.
Chúa nhật II Mùa vọng, Giáo hội giới thiệu cho chúng ta khuôn mặt Gioan Tiền hô, một ngôn sứ luôn gắn bó với Thiên Chúa, rất gần gũi với con người. Lời Chúa Gioan chiêm niệm trong hoang địa qua nhiều năm tháng đã giúp ông tiếp xúc, gặp gỡ với nhiều hạng người qua những vùng ven sông Giođan. Lời Chúa Gioan nghe đã trở thành lời Chúa ông công bố. Tiếng Chúa gọi Gioan đã trở thành tiếng ông mời gọi mọi người.Gioan trở nên trung gian làm người dọn con đường tâm hồn cho anh chị em mình đến với Chúa Cứu Thế.

Gioan là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước. Sau 5 thế kỷ vắng bóng ngôn sứ, nay Gioan xuất hiện với sứ mạng Tiền hô. Ông đáp lại tiếng Chúa gọi, ra đi rao giảng về Nước Trời, dọn đường cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi cách nhiệt thành và đã chết anh hùng cho sứ vụ. (x. Mt 14,3012; Mc 6,17-19). Cuộc đời Gioan là một thiên anh hùng ca, bất khuất trước cường quyền, bao dung với tội nhân.

Gioan có một cuộc sinh ra kỳ lạ, một lối sống khác thường. Gioan chọn con đường tu khổ chế : ăn châu chấu và mật ong rừng, uống nước lã và mặc áo da thú. Sống trong hoang địa trơ trụi, vắng người, thiếu sự sống. Nhưng chính ở đó mà Gioan đã lớn lên và trưởng thành trong sự gặp gỡ thâm trầm với thiên Chúa.

Gioan nhắc lại lời tiên tri Isaia: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng” (Lc 3,5). Gioan mời dân chúng sám hối. Không thể tiếp tục sống như xưa nữa. Đã đến lúc phải đổi đời, đổi lối nhìn, đổi lối nghĩ. Như thế, Gioan kêu gọi hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi. Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc. Phải san cho phẳng những đồi núi kiêu căng tự mãn. Phải bạt cho thấp những gồ ghề của bất công bất chính.

Đạo là con đường dẫn đến Thiên Chúa. Đạo là ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu không có đường thì không đi đến đâu cả. Một đất nước có văn minh hay không là do hệ thống đường sá.

Đạo từ nguyên thuỷ luôn mang ý nghĩa trong sáng, ngay thẳng, công minh. Đạo dẫn đưa con người đến chân thiện mỹ.

Đạo là đường nên có thể nói sống đạo là sống ngoài đường, sống với người khác, sống với cuộc đời. Abraham khởi đầu cuộc sống thật bằng việc lên đường từ giã thành Ur để sang đất hứa. Và lịch sử Do thái là những chuyến xuất hành di cư, lang thang trong sa mạc, lưu đầy và mất quê hương trong một thời gian dài. Gioan rao giảng và làm phép rửa khắp mọi nẻo đường. Chúa Giêsu sống ở thế gian bằng những cuộc lên đường sang Ai cập, về Nazareth, lên sa mạc, vào đền thánh và trở lại Galilêa. Cuộc sống công khai của Chúa ít là có ba cuộc hành trình lên Giêrusalem. Và sau cùng Ngài lên đường về nhà cha.

Vì là đường nên nên đạo luôn mở ra nối kết và đón nhận cuộc sống, đón nhận mọi người, không phân biệt ai với tinh thần yêu thương của Thiên Chúa. Tin mừng chính là đạo, là con đường mà Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta đi theo ngài.

Đường quan trọng nhất là đường vào cõi lòng. Gioan đã chỉ cho thấy rằng, mỗi con người đều có ít nhiều đồi núi kiêu ngạo, thung lũng ích kỷ, ghồ ghề khúc khuỷu trong các mối quan hệ. Có bao lối nghĩ quanh co, có bao tính toán lệch lạc, có những lũng sâu tăm tối thiếu vằng ánh sáng tình yêu. Sửa đường theo Gioan là sám hối. Nhìn lại con đường mình đã đi qua, sửa lại những sai lệch nếu có. Những gì cong queo san cho thẳng. Những gì cao cần bạt xuống. Lúc đó mới nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa. Sửa cho thẳng, lấp cho đầy, uốn cho ngay, san cho phẳng, bạt cho thấp. Đó là sứ điệp Gioan gởi tới chúng ta trong Mùa Vọng này, để chúng ta dọn lòng mình thành đại lộ thênh thang mở ra với Chúa Cứu Thế.

Con đường mà Gioan nói tới đây chinh là đường vào cõi lòng. Con đường nội tâm của mọi người. Sửa con đường nội tâm là thay đổi cõi lòng, thay đổi cuộc sống để xứng đáng đón tiếp Chúa Cứu Thế. Sửa đường cho Chúa đến là cần thiết và hợp lý. Khi đón tiếp một vị khách quý, người ta thường sửa sang đường sá, làm sạch đẹp nơi vị khách sẽ đến. Như thế là biểu lộ lòng kính trọng đối với vị khách. Thiên Chúa là vị khách cao trọng nhất. Người hạ mình đến thăm và ở lại cùng sống với thân dân của Người. Đó là hạnh phúc tuyệt vời nên cần phải dọn tâm hồn xứng đáng. Như con đường cho Chúa đi qua. Như căn nhà cho Chúa ngự tới. Chúa đứng ngoài cửa lòng và gõ cửa, ai mở thì Ngài đi vào. Con đường có thể có chông gai tội lỗi, có nổi đam mê tiền lợi danh, có những tính hư nết xấu. Cho nên trong cõi lòng đó phải có im lặng như cõi lòng Mẹ Maria ghi nhớ, suy niệm và không nói gì. Chỉ nói những lời để giúp đỡ người khác. Và tâm hồn ấy bình an nên nghe rõ tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi. Như thế dọn đường chính là tạo im lặng cho tâm hồn để nghe được tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi.

Dọn đường còn là tỉnh thức đợi chờ Chúa đi xa trở về. Như năm cô khôn ngoan có sẵn dầu đèn. Như những đầy tớ làm lợi những nén vàng cho chủ. Như tên lính canh thành luôn chú ý những biến chuyển chung quanh. Mỗi cá nhân, ai cũng có những tật xấu, những khuyết điểm, vị kỷ kiêu căng tham lam đố kỵ ghen ghét lười biếng hèn nhát… Xã hội nào cũng có bất công, những lạm dụng quyền bính, những hủ tục, những tệ đoan, những điều ấy làm cho con người đau khổ, trì trệ, không phát triển.

Dọn đường căn bản là ở trong nội tâm, sám hối để canh tân, sửa đổi để trở nên tốt lành thánh thiện hơn. Những con đường thường được làm bằng đất đá nhựa bê tông. Những con đường trên mặt đất, trên sông trên biển trên bầu trời là những con đường vật lý. Những con đường tâm lý, con đường tinh thần, con đuờng lòng người mới quan trọng hơn. Nguyễn Bá Học đã nói: đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ vì lòng người ngại núi e sông.

Sống đạo luôn là một thách đố đầy quyết liệt và phong phú. Hiểu đạo, tin đạo, giữ đạo xem ra khá dễ dàng vì thuộc lãnh vực cá nhân. Còn sống đạo thường khó khăn hơn vì liên quan đến tha nhân, đòi hỏi một sự quên mình, vượt thắng bản thân. Cũng như thực hiện việc dọn đường qua nghi thức sám hối bên ngoài như rửa tội, xưng tội khá dễ dàng, nhưng nếu mà trong lòng không thật tâm sám hối đưa đến canh tân bản thân, thì hành vi sám hối chỉ là việc làm lấy lệ hình thức mà thôi.

Sống đạo bao giờ cũng đòi hỏi nhiều cố gắng và tỉnh thức. Mùa Vọng , Giáo hội cho chúng ta chiêm ngắm mẫu gương của Gioan. Sống gắn bó với Thiên Chúa và gần gũi với con người. Như thế mỗi người sẽ sống đạo hôm nay với tất cả niềm vui hạnh phúc cho bản thân và cho tha nhân.

Linh mục Giuse Nguyễn Hữu An

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

ĐIỂM VĂN THƯ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ VỀ LECTIO DIVINA

ĐIỂM VĂN THƯ LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ LECTIO DIVINA



“ Anh em đang ở vườn Kinh Thánh, ngày đêm anh em chăm lo suy gẫm luật Chúa. Sách anh em đọc cũng nhiều bằng số lượng vườn tược anh em rảo qua và tư tưởng anh em kín múc nơi sách vở cũng như hoa trái trong vườn anh em chăm sóc” (Guerric d`Igny).

Chính vì thế mà số lượng tác giả nghiên cứu hiện nay khá phong phú về việc cầu nguyện với phương thế Lectio Divina nên một số tác giả đã trình bày một cách cụ thể về Lectio Divina như Tác giả Jacques Rousse trong tác phẩm “Dictionnaire de Spiritualite Xpp 470-510) nêu rất rõ các mốc lịch sử của Lectio Divina. Qua đó cho chúng ta một sự lắng nghe như thế gắn kết toàn vẹn con người trong tình yêu thực sự của Chúa để được “Lời ở kề gần con, trên môi miệng con và trong lòng con” (Đnl 30,14, Rm10,8). Bởi thế Marc Daniel dòng Xito trong tập tài liệu “ Lectio Divina – đọc Lời Chúa” đã trình bày tổng quát về nền tảng việc đọc Lời Chúa, qua đó giúp chúng ta tìm kiếm gương mặt Chúa Kitô trên đó tỏa sáng vinh quang của Chúa Cha (2 Cor4,6) và thông điệp mật thiết với Chúa Thánh Thần dưới các bước hình thể như: Lectio, Meditatio, L`Oratio, Contemplatio của việc đọc Lời Chúa.

Trong các thế kỷ đầu, các tu sĩ đọc và Cầu Nguyện với Lời Chúa suốt ngày, không theo một “lược đồ” nào rõ rệt. Khoảng năm 1150, một tu sĩ trẻ (sau trở thành Tu Viện trưởng) tên là GuigoII đã trình bày Lectio Divina theo hình ảnh một cái thang có bốn bậc (cảm hứng từ “cây thang Giacóp” xst 28,12) đó là “bốn bậc Thang Thần đưa người ta từ đất đến trời”mà Philipphê Trần đã tổng hợp.  Bốn bậc thang đó là: đọc Lời Chúa, Suy niệm, Cầu Nguyện, Chiêm Niệm. Cũng cùng chung một nhận định như thế Hoàng Quý và Đồng Hành đã trình bày khá chi tiết về trình tự đọc Lời Chúa được Hội Thánh nhìn nhận và áp dụng. Đây cũng là việc mà chúng ta không được quên, không được lơ là.

Gần đây, Đức Giám Hoàng Bênêđictô XVI trong tông huấn Verbum Domini đã khuyết khích Kitô hữu đọc Kinh Thánh (s.86) và việc thực hành Lectio Divina (s.87) với bốn căn bản của Lectio Divina bắt đầu bắng việc đọc (Lectio) bản văn, sau đó là suy niệm (Meditatio), rồi người ta đi tới phần cầu nguyện (Oratio) cuối cùng Lectio Divina kết thúc bằng sự chiêm ngưỡng (Contemplatio). Lời Chúa là nguồn mạch đầu tiên của mọi linh đạo Kitô giáo. Lời Chúa nuôi dưỡng tương quan cá vị với Thiên Chúa hằng sống và ý Chúa muốn cứu độ và thánh hóa của Ngài (Vita Consecrata 94), lắng nghe Lời Thiên Chúa đòi hỏi là một dấn thân kiên trì được nuôi dưỡng bằng đức tin qua Lectio Divina mà Đặng Quang Tiến  (chuyển dịch) đã trình bày về Lectio Divina trong phụng vụ và trong cộng đoàn với bốn yếu tố: Lectio, suy niệm, kinh nguyện, cầu nguyện giúp các tín hữu tham dự một cách sâu xa và trở nên chứng tá cho Đức Kitô.

Ngoài ra còn rất nhiều văn thư liên quan đến  phương thế thực hành Lectio Divina,… để giúp các tín hữu sống Lời Chúa tốt hơn trong ơn gọi làm con Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.

Lectio Divina là một phương thế quan trọng trong việc đọc Kinh Thánh. Đây là cách thế truyền thống nhất trong Hội Thánh. Vì thế, Lectio Divina cũng cổ xưa như Hội Thánh, một Hội Thánh vốn sống nhờ Lời Chúa của Thiên Chúa và lệ thuộc vào Lời ấy như nước với nguồn ( x. Dei Verbum ss.7.10.21). Lectio Divina là đọc Lời của Thiên Chúa với tâm tình tin tưởng và cầu nguyện, đặt nền tảng trên lòng tin vào Chúa Giêsu “ Thánh Thần sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn” (Ga 14,16; 16,12). Do đó, Kinh Thánh khơi mở cho chúng ta về phương thế cầu nguyện này. Kiểu nói “ Lectio Divina” có từ thời các giáo phụ, các Ngài đã đúc kết, tóm tắt về phương thế Lectio Divina. Tuy nhiên, việc thực hành với phương thế Lectio Divina đã bị quên lãng sau một thời gian dài nay được lấy lại sau công đồng Vanticano II. Nhưng thật là đáng tiếc khi quyển Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo lại chỉ đề cập đến bốn tâm tình cầu nguyện của tín hữu chứ không nêu rõ phương pháp thực hành Lectio Divina.

Trong chiều hướng canh tân đời sống của các tín hữu do công đồng Vanticano II chủ xướng, Roma đã ban hành

Tuy thư văn liên quan đến Lectio Divina thật phong phú và bao quát, nhưng những giáo huấn cụ thể giúp tín hữu hiểu được ý nghĩa việc mình làm trong cách thực hành Lecito Divina chưa được tìm hiểu cặn kẽ. Việc thực hành Lectio Divina sẽ giúp cho các tín hữu sống tốt hơn nhưng các tác phẩm lại chưa đề cập đến việc đưa ra các quyết tâm, hành động sau khi thực hành Lectio Divina. Sống Lời Chúa là tâm điểm của đời sống Kitô hữu nhưng trong phụng vụ của Giáo Hội lại không có phần nào nhắc đến việc đưa Lectio Divina vào trong phụng vụ cả. Ngoài ra cũng chưa có mấy tác phẩm đặt lại vấn đề về tính hội nhập văn hóa cũng như canh tân phương pháp Lectio Divina, nhất là cần phải thống nhất về phương thế thực hành Lectio Divina bên cạnh đó cũng chưa đề cập đến những thực trạng xã hội hôm nay như làm sao đưa phương thức thực hành này vào những nơi vùng sâu vùng xa, cho những người “mù chữ”, hoặc cho những người khiếm thị (làm sao họ có thể nhìn thấy mà đọc được Lời Chúa).

Ngày nay, việc cải tổ phương thức cho phù hợp với nữ tính là rất cần thiết nên cần phải chọn lọc   những giai điệu nhạc nhẹ mang tính chất cầu nguyện,  hoặc hít thở thật sâu trước khi bắt đầu thực hành Lectio Divina để đưa tâm hồn vào trong Chúa trước những lo lắng bận bịu của cuộc sống, cũng có thể tận dụng việc tập Yora để thực hành Lectio Divina vì não trạng con người ngày nay là thực dụng nên việc tận dụng các phương thế để cầu nguyện là điều hết sức cần thiết.

Trước những thực tại, những khó khăn cũng như những khía cạnh chưa được làm sáng tỏa trong đề tài nghiên cứu sẽ giúp cho bài này trở nên phong phú hơn . Do đó, dẫn đến việc nghiên cứu đề tài này.

                                                                                                                                                      

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

CHÚA NHẬT THỨ I MÙA VỌNG NĂM B

Chúa Nhật I Mùa Vọng - Năm B
CANH THỨC CHỜ CHÚA ĐẾN
Lm Bùi Thượng Lưu
Bắt đầu từ Chúa Nhật 1 Mùa Vọng hôm nay, toàn thể giáo hội chính thức bước vào Năm Phụng Vụ mới, cùng với lời mời gọi của Chúa Giêsu trong Tin Mừng theo thánh Maccô: "Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến. Vậy anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng, kẻo lỡ ra ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ "(Mc 13, 33, 35-36).
Tại các nhà thờ Đức có một tục lệ rất ý nghĩa là mỗi nhà thờ đều trang điểm vòng hoa Mùa Vọng với những cành thông tươi xanh và bốn cây nến, tượng trưng cho 4 Chúa nhật Mùa Vọng. Khởi đầu thánh lễ mỗi Chúa nhật, đang khi cộng đoàn hát bài Mùa Vọng, cây nến được thắp sáng. Chúa nhật thứ nhất thắp sáng một cây. Chúa nhật thứ hai thắp sáng hai cây. Khi cả bốn cây được thắp sáng, thì đại lễ giáng sinh cũng đã gần kề. Tục lệ này cũng được lan rộng trong nhân gian, tới hầu hết các công sở, các gia đình. Nơi nào cũng bầy vòng thông Mùa Vọng với đủ loại nến mầu đỏ, tím...
Như vậy ý nghĩa thứ nhất trong Mùa Vọng là mùa canh thức chuẩn bị tâm hồn để đón mừng Chúa Giáng Sinh. Trọng tâm của lịch sử và Tin Mừng cứu độ chính là biến cố: Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu nhân độ thế.
Ngày giáng trần của Chúa Giêsu phải được đón mừng vì đây là Biến Cố có một không hai trong lịch sử cứu độ: nhờ Ngôi Lời nhập thể làm người thì vũ trụ vạn vật lại được đổi mới (TNKB, s. 3). Kể từ Biến Cố này, Trời giao hòa với Đất, nhân loại được Thiên Chúa yêu thương và toàn thể vũ trụ được đón nhận TIN Mừng cứu độ. Chính vì thế, Biến cố Giáng Sinh của Chúa Giêsu đã trở nên Trung Tâm điểm của lịch sử nhân loại, mốc điểm thời gian.
Theo Kinh Thánh, canh thức là thái độ của một người “đang tỉnh thức chờ đợi”, không ngủ mê, không thụ động, nhưng canh chừng, luôn phòng bị để kịp đối phó với kẻ địch tấn công bất ngờ (Tv 127, 1t), lòng nhiệt tâm chu toàn trách nhiệm hiện tại, biết nhận ra những dấu chỉ thời đại, khám phá ra thánh ý Thiên Chúa, kiên tâm phục vụ trong yêu thương, đang khi ngóng chờ một biến cố sắp xẩy đến... sẵn sàng đón tiếp Chúa, khi Ngày của Ngài điểm.
Đây là lời khuyên nhủ, dặn dò chính yếu của Chúa Giêsu dậy các môn đệ của Ngài. Vì Chúa đến bất chợt như kẻ trộm ban đêm (Mt 24,43t), như ông chủ trở về mà không báo cho các đầy tớ biết (Mt 13,35t), như chàng rể đến lúc canh khuya, và chỉ năm cô trinh nữ khôn ngoan đang canh thức với đèn đầy dầu, mới kịp ra đón rước chàng rể vào dự tiệc cưới (Mt 25, 1-13).
Vậy canh thức là đặc tính căn bản, là thái độ sắp sẵn của người môn đệ Chúa, để chỗi dậy khỏi giấc ngủ đam mê, nghĩa là dứt khoát với tội lỗi, dứt bỏ trần thế và những đam mê dục vọng (Lc 21, 34tt). Canh thức là hoán cải và trở về với Chúa, không nằm lì trong tội ác, không cứng lòng và khinh thường tiếng mời gọi thống hối của Chúa. Canh thức trong cầu nguyện, tiết độ, không chè chén say sưa, không cờ bạc, không say đắm nhục dục... quyết không để “ba cái lăng nhăng” nó quấy ta!
Canh thức để nhận diện ra kẻ thù và chiến đấu với thần dữ. Trong giờ kinh tối, các linh mục và tu sĩ thường đọc: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1P 5,8). Ma quỷ có thể ẩn hiện trong những phim ảnh xấu, những sách báo đồi trụy, ma túy... những dịp tội gần xa đưa chúng ta xa Chúa, lạc đường về Quê Trời.
Canh thức để phân biệt phải trái: đừng bị ru ngủ, bị đầu độc, bị tuyên truyền bởi óc hưởng thụ, bởi tinh thần vị kỷ cá nhân, bởi các học thuyết vật chất vô thần, bởi những ông đạo buôn thần bán thánh, bởi những mê tín dị đoan, bởi những quảng cáo quyến rũ, những truyền đơn loan tin thất thiệt ngày tận thế...
Canh thức để khỏi bị chán nản, ngã lòng nản chí, bỏ cuộc. Có những tín hữu gặp thử thách trong đời sống gia đình, gặp những khó khăn về vật chất, bị đau ốm lâu dài... đã nản lòng, kêu trách Chúa, và nhiều khi bỏ nhà thờ, bỏ cầu nguyện, bỏ Giáo hội!
Canh thức trong cầu nguyện theo gương Chúa trong vườn cây dầu. Cầu nguyện ở đây được hiểu là cầu kinh sớm tối. Cầu nguyện là đọc và suy gẫm Lời Chúa trong Thánh Kinh. Cầu nguyện có thể là lần chuỗi Mân Côi, miệng đọc lòng suy. Cầu nguyện cao đẹp nhất là tham dự thánh lễ Chúa nhật... Tất cả những hình thức cầu nguyện trên đây, giúp người tín hữu luôn hiệp thông với Chúa, tâm hồn luôn lắng nghe những “thánh chỉ” của Chúa.
Canh thức để trung tín giữ luật Chúa: luật yêu thương, luật công bằng. Trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, người tín hữu hằng để luật Chúa như đèn soi, như kim chỉ nam cho mọi ước muốn, mọi tư tưởng, mọi lời nói và việc làm của mình.
Canh thức để phục vụ anh em: người tín hữu luôn được Chúa mời gọi để sống đời phục vụ trong bác ái và trong yêu thương. Đời sống gia đình là môi trường phục vụ lý tưởng nhất. Vợ chồng kitô hữu hiến thân cho nhau, tha thứ cho nhau, biết tận tâm giáo dục con cái, biết dùng của cải Chúa ban để mưu sống gia đình, nhưng đồng thời cũng biết chia cơm sẻ bánh cho anh em nghèo đói kém nay mắn hơn trên khắp thế giới. Mỗi tín hữu còn được Chúa mời gọi để phục vụ cộng đồng, các giáo xứ, Hội Thánh, tùy theo khả năng và hoàn cảnh.
Canh thức để đón chờ Chúa đến. Tín hữu Chúa Kitô biết rõ ràng rằng: cuộc sống trần gian, tất cả của cải đều mau qua chóng hết, không ai sống mãi, nhưng đi về vĩnh cửu. Điều chắc chắn là mỗi người chúng ta sẽ có một ngày phải từ giã cõi đời tạm này. Nhưng chết vào ngày giờ nào, chết cách nào, chết ở đâu? Chẳng có ai biết được. Do đó, tín hữu Chúa phải tỉnh thức để đón chờ Chúa đến.
Từ ngày lãnh nhận phép Thánh Tẩy, người tín hữu là con cái của ánh sáng, nên phải luôn tỉnh thức để mình khỏi rơi vào đêm tối của sự chết, không mất mục tiêu, không quên ngày Chúa đến cuối đời của mình...